Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012
Bệnh xương khớp thường gặp ở phụ nữ mang thai và sau sinh

Bệnh xương khớp thường gặp ở phụ nữ mang thai và sau sinh

Phụ nữ mang thai cần thường xuyên tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D Quá trình thai nghén ảnh hưởng đến tiến triển của một số bệnh khớp như làm nặng thêm một số bệnh, mặt khác làm nhẹ đi một số bệnh như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến. Nhiều trường hợp không được chẩn đoán và điều trị đúng đã ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cả mẹ và con.
Đau vùng thắt lưng - khung chậu

Những biến đổi về tư thế liên quan đến quá trình mang thai (cột sống đoạn thắt lưng và đoạn cổ ưỡn ra trước, đoạn ngực và cùng cụt cong ra sau nhiều hơn so với trước khi mang thai) là nguyên nhân quan trọng gây đau lưng. Mặt khác, dưới tác dụng của hormone khi mang thai, các khớp, dây chằng mềm và giãn ra nhất là vùng chậu hông, khớp mu, khớp cùng - chậu và cùng cụt làm cho khung chậu dễ thay đổi và tăng độ rộng giúp mang thai và cuộc đẻ được dễ dàng.

Biểu hiện: Gần nửa trường hợp có đau thắt lưng trong khi mang thai nhất là 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Đau thường khu trú ở vùng thắt lưng và khớp cùng chậu, ít hoặc không lan, tăng khi vận động và sờ nắn tại chỗ, giảm khi nghỉ ngơi.

Điều trị: Dùng thuốc chống đau nhóm acetaminophen (paracetamol) và vật lý trị liệu là lựa chọn hàng đầu.

Sau khi sinh, nhất là sinh thai to, chuyển dạ kéo dài có thể gây đau nhiều vùng cùng chậu, không đi lại được. Nặng hơn nữa là viêm khớp cùng chậu nhiễm khuẩn (sốt cao, đau nhiều, gầy sút) cần phải điều trị bằng kháng sinh. Lưu ý có nhiều loại kháng sinh không được dùng vì tiết qua sữa ảnh hưởng đến con. Nhóm bêta lactamin vàcephalosporin là kháng sinh nên lựa chọn.

Viêm điểm bám tận của gân vào đầu xương và viêm bao gân

Với chi trên ở các vị trí bám tận của gân vào đầu xương hay bị viêm là viêm mỏm châm quay, mỏm châm trụ, lồi cầu ngoài và trong cánh tay. Với chi dưới là viêm điểm bám tận khối cơ dạng đùi (mấu chuyển lớn) và cơ khép đùi (mấu động nhỏ), gân Achille ở gót chân. Trong đó viêm bao gân vùng mỏm châm quay (hội chứng De Quervain) là hay gặp hơn cả.

Nguyên nhân gây bệnh là do vùng mỏm châm xương quay có một bao hoạt dịch bọc chung hai gân của cơ dài dạng và ngắn duỗi ngón tay cái. Khi bao này bị viêm sẽ gây đau và hạn chế vận động ngón cái. Đây là bệnh gặp nhiều nhất trong thời kỳ này, nhất là ở phụ nữ phải làm việc nhiều bằng tay và các động tác xoắn vặn cổ tay (giặt, vắt quần áo...).

Biểu hiện: Bệnh nhân thấy sưng và đau bờ ngoài của mỏm châm xương quay, đau tăng lên khi phải sử dụng ngón tay cái và đau liên tục nhất là về đêm. Khám có thể thấy vùng này hơi sưng nề, ấn vào đau. Khi làm một số động tác thì đau tăng: bệnh nhân duỗi và dạng hết sức ngón tay cái mà thầy thuốc chống đối lại, hoặc bảo bệnh nhân để ngón tay cái vào gốc ngón út, ta đẩy bàn tay khép vào hết sức thì sẽ gây một cảm giác đau nhói.

Để phòng bệnh, cần tránh các động tác xoắn vặn quá mức cổ tay và ngón tay như kể trên. Các thuốc chống đau nhóm acetaminophen và vật lý trị liệu (tia hồng ngoại) đem lại hiệu quả trong một số trường hợp. Nếu không đỡ phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để có chỉ định điều trị cụ thể.

Cơn tétani do hạ canxi máu

Trong quá trình mang thai và cho con bú, một lượng lớn canxi được lấy từ người mẹ sang thai nhi để phát triển hệ thống xương của thai nhi. Quá trình này làm cho nồng độ canxi máu của người mẹ giảm, đặc biệt ở những người mẹ có chế độ ăn không đầy đủ canxi theo nhu cầu (1.500 mg/ngày) hay những người bị bệnh đường tiêu hóa mạn tính làm giảm hấp thu canxi ở ruột. Những người nghén nhiều như nôn nhiều làm mất nước, điện giải và tình trạng kiềm hóa kèm theo tình trạng lo lắng, tạo điều kiện cho cơn tétani xuất hiện.

Triệu chứng: Cơn tétani là một tình trạng kích thích quá mức của hệ thống thần kinh - cơ, dấu hiệu báo trước hoặc đi kèm là hiện tượng dị cảm, nặng nề ở tay, chân, vùng quanh miệng. Tiếp theo là tình trạng co cơ đột ngột, nhất là ở bàn tay và ngón tay tạo nên hình ảnh như bàn tay người đỡ đẻ. Tình trạng co cơ có thể biểu hiện ở các vị trí khác như ở chân hay ở mặt. Một số trường hợp có kèm với co thắt cơ trơn gây nên tình trạng khó thở do co thắt khí quản hay đau bụng do co thắt cơ trơn ở ruột... Tình trạng co cơ kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Có thể có tình trạng lo lắng, hoảng hốt, mạch nhanh... Thăm khám giữa các cơn tétani có thể phát hiện được tình trạng co cơ vùng má khi gõ bằng búa phản xạ vùng trước lỗ tai (dấu hiệu Chvostek) hay cơn tétani tái xuất hiện khi yêu cầu bệnh nhân thở nhanh (gây tình trạng kiềm hóa máu do tăng thông khí). Xét nghiệm máu trong cơn sẽ thấy canxi máu giảm nhưng đôi khi có những trường hợp canxi máu không giảm.

Dự phòng và điều trị: Phải bổ sung canxi (1.000-1.500 mg/ngày) và vitamin D bằng các thức ăn giàu canxi (cua, cá, thịt...), phơi nắng để tăng tổng hợp vitamin D từ da. Các triệu chứng của cơn tétani sẽ hết đi nhanh nếu được tiêm tĩnh mạch dung dịch canxi (thường dùng 500-1.000mg dung dịch canxi clorua).

Để giữ gìn sức khỏe tốt cho cả mẹ và con, các sản phụ không nên tự ý sử dụng thuốc điều trị các chứng bệnh xương khớp trong thời kỳ thai nghén và cho con bú. Khi dùng thuốc phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa để tránh những hậu quả không mong muốn cho cả mẹ và con.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012
no image

Nguyên nhân mắc bệnh tiểu đường

Một thực trạng của cuộc sống xã hội hiện đại, do ăn uống, sinh hoạt, lối sống lười vận động cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tiểu đường (đái tháo đường ). Bệnh tiểu đường được chia làm 2 loại: Bệnh tiểu đường tuýp 1 và bệnh tiểu đường tuýp 2 đây là 2 loại tiểu đường mà số lượng người mắc phải ngày càng tăng cao đặc biệt là loại đái tháo đường tuýp 2.
Béo phì là nguyên nhân dễ mắc bệnh tiểu đường
Béo phí không những là nguyên nhân dễ mắc bệnh đái tháo đường mà còn sinh ra nhiều bệnh khác ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 1

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là do sự thiếu insulin trầm trọng của cơ thể, khi bị thiếu insulin thì lượng đường trong máu không được chuyển hóa đến tề bào trong cơ thể nên không thể sinh ra năng lượng. Lúc này đường theo máu và được đào thải qua nước tiểu. Vậy tại sao tuyến tụy lại không thể sản xuất insulin một cách bình thường? Như chúng ta đã biết hệ thống miễn dịch có cơ chế bảo vệ cơ thể bằng cách xác định và tiêu diệt vi khuẩn, virus. Nhưng trong các bệnh tự miễn dịch, hệ thống miễn dịch lại tấn công các tế bào trong cơ thể, và trong bệnh tiểu đường tuyp 1 thì hệ thống này đã tấn công các tế bào beta trong tuyến tụy làm cản trở hoặc ngừng sản xuất insulin của tuyến tụy.

Các yếu tố chính dẫn tới mắc phải bệnh tiểu đường tuýp 1


Tiểu đường loại 1 do di truyền: Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ai là người có khả năng phát triển bệnh tiểu đường tuyp 1. Gen được truyền từ bố mẹ cho con. Gen giúp thực hiện tạo ra các Protein cần thiết cho hoạt động của các tế bào. Tuy nhiên một số biến thể gen hoặc một vài nhóm gen tương tác với nhau tạo nên nguyên nhân chính của bệnh tiểu đường.

Tiểu đường loại 1 do hệ thống miễn dịch: Các tế bào bạch cầu trong hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công tế bào beta. Chính lý do này làm cho tuyến tụy suy giảm hoặc mất hẳn chức năng sản xuất insulin.

Yếu tố môi trường, thực phẩm, vi khuẩn, virus và các độc tố: Chính các yếu tố này gây ra sự phá hủy tế bào beta của tuyến tụy gây nên bệnh lý

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 2


Bệnh tiểu đường tuýp 2 được phát hiện khi cơ thể không còn sản xuất đủ insulin hoặc sự suy giảm về khả năng sử dụng insulin.

Cơ bản có 2 nguyên nhân chính gây nên bệnh tiểu đường loại 2


Yếu tố di truyền: Gen đóng vai trò quan trọng đối với bệnh tiểu đường loại 2. Gen hoặc những nhóm gen biến thể có thể tác động làm suy giảm khả năng sản xuất insulin của tuyến tụy.

Do béo phì và lười vận động: Do dư thừa Calo, mất đi sự cân đối calo với hoạt động của cơ thể gây tình trạng kháng insulin. Khi nạp quá nhiều dinh dưỡng vào cơ thể mà không có chế độ vận động hợp lý sẽ tác động tới tuyến tụy và gây áp lực ép tuyến tụy phải sản xuất insulin, trong thời gian dài tuyến tụy sẽ suy yếu và mất dần đi khả năng sản xuất insulin gây nên bệnh tiểu đường.
Việc điều trị và chữa khỏi bệnh đái tháo đường là mong mỏi của nhiều người bệnh. Nhà thuốc An Dược với bài thuốc nam gia truyền sẽ có tác dụng đào thải độc tố trong tuyến tụy, cung cấp những dưỡng chất bổ sung cho tuyến tụy giúp tuyến tụy được hồi phục và hoạt động trở lại bình thường.
Đông y trị đau nhức xương khớp

Đông y trị đau nhức xương khớp

Thời tiết chuyển mùa, những đợt mưa phùn gió bấc khiến nhiều bệnh tật phát sinh. Cùng với các bệnh đường hô hấp, bệnh về xương khớp cũng gia tăng, đặc biệt đối với người cao tuổi. Thường hay gặp nhất là đau chân tay, đau bả vai, đau một bên cơ thể, đau nhức trong xương làm cho cơ thể chậm chạp, khó vận động, dáng người nhiều khi bị nghiêng lệch… Đau nhức làm ảnh hưởng đến thần kinh, cân cơ, bệnh nhân mất ngủ, chất lượng cuộc sống giảm sút.

Để phòng chống và khắc phục tình trạng này, xin giới thiệu một số bài thuốc hữu hiệu, thích ứng cho từng thể lâm sàng.

- Đau nhức khớp gối, đau nhiều về đêm, chân tay lạnh, da lạnh

Nguyên nhân do hàn thấp với tà khí xâm nhập mà gây nên bệnh.

Phép trị: Khu phong tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc sắc:

Bài 1:Nam tục đoạn 16g, rễ xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, kinh giới 16g, thạch xương bồ 12g, đậu đen (sao thơm) 24g, hà thủ ô 16g, đương quy 12g, huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày.

Bài 2:Ngải diệp phơi khô 16g, cỏ xước 16g, cây và lá cối xay 16g, thổ phục linh 20g, đơn hoa 16g, kinh giới 16g, bưởi bung 16g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, tang chi 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, rễ xấu hổ 16g, xa tiền 12g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm. đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày (uống nóng).

Thuốc chườm: Lá ngải diệp 1 nắm, củ thạch xương bồ giã dập 24g, hai thứ trộn vào nhau sao nóng, dùng miếng vải gói thuốc lại chườm vào chỗ đau. Thuốc nguội thì sao lại để chườm tiếp. Công dụng: ôn kinh tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc ngâm rượu: Rễ cỏ xước 20g, rễ xấu hổ 20g, rễ bưởi bung 20g, nam tục đoạn 20g, xuyên khung 20g, trần bì 12g, thủ ô chế 20g, kê huyết đằng 20g, tang chi 20g, đương quy 20g, táo nhân sao đen 20g, cam thảo 16g. Cho tất cả các vị cho vào bình sành, đổ ngập rượu để ngâm, sau 12 ngày là có thể dùng được. Ngày uống 50-60ml chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: khu phong tán hàn, chống viêm trừ thấp, thông hoạt kinh lạc.

- Đau vai gáy, đau lan xuống một bên cánh tay, sờ vào da thấy lạnh, cơ ở vùng cổ bị co cứng, quay đầu rất khó kahăn, toàn thân mệt mỏi, kém vận động. Chứng trạng này là do bị nhiễm lạnh, ảnh hưởng đến chức năng của kinh lạc, khí huyết trở trệ…

Bài thuốc:

Bài 1:Rễ cúc tần 16g, nam tục đoạn 16g, cẩu tích 12g, phòng phong 10g, kinh giới 12g, đỗ trọng 10g, tần giao 10g, đương quy 12g, rễ tất bát 12g, quế 10g, cam thảo 12g, sinh khương 3 lát. Cho các vị vào ấm, đổ nước 1 lít, sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Công dụng: ôn trung tán hàn, hoạt huyết thông mạch.

Bài 2:Ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, đơn hoa 12g, kinh giới 12g, thạch xương bồ 12g, hoa hồng bạch 5g, hà thủ ô chế 12g, cỏ xước 16g, rễ xấu hổ 16g, quế chi 10g, thổ phục linh 16g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, chích thảo 12g, lá lốt 12g, trần bì 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Công dụng: thông kinh hoạt lạc, tán hàn chỉ thống.

Trong khi dùng thuốc có thể kết hợp day bấm huyệt. Lần lượt day bấm vào các huyệt sau đây: thị huyệt, phong trì, hợp cốc, huyền trung. Bấm mỗi huyệt từ 5-7 phút, trong khi bấm nếu đến được đắc khí thì giữ cường độ lưu ngón tay lại, kéo dài thêm thời gian. Tác dụng: thông được kinh lạc, thông được dương khí, từ đó sẽ giảm đau rất nhanh.

- Đau ở gót chân: đau nhức buốt trong gót chân, càng giá lạnh càng đau tăng, nhìn bên ngoài không thấy sưng, bàn chân và cẳng chân lạnh. Bàn chân có cảm giác tê bì, đi lại khó khăn. Toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, ngại vận động.

Nguyên tắc điều trị: Tán hàn, trừ thấp, giảm đau, thông kinh lạc

Bài thuốc:

Bài 1: Cẩu tích 12g, bưởi bung 16g, đơn hoa 16g, thổ phục linh 20g, xấu hổ 16g, kinh giới 16g, tang kí sinh 16g, đẳng sâm 12g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, xa tiền 12g, lá tre 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nam tục đoạn 16g, hà thủ ô chế 16g, ngưu tất 16g, cà gai leo 12g, rễ cúc tần 12g, thổ phục linh 16g, củ giềng 12g, rễ lá lốt 12g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, hương nhu trắng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra có thể dùng bài thuốc đắp: Vỏ cây gạo 1 nắm, cạo bỏ vỏ thô bên ngoài, sau đó cho vào cối đá giã nhỏ, trộn thêm đồng tiện vào, xào nóng để nguội bớt rồi đắp vào gót chân băng lại. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. 

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012
no image

Lá dứa trị tiểu đường hiệu quả

Bệnh tiểu đường hay đái tháo đường là căn bệnh xếp thứ 3 ở mức độ nguy hiểm gây tử vong cao trên toàn thế giới. Căn bệnh này có đặc điểm rất khó phát hiện nó phát triển âm thầm đến khi có biểu hiện bệnh ra bên ngoài thì thường lúc tình trạng bệnh đã khá nặng dẫn tới gặp khó khăn khi điều trị tiểu đường. Chính vì vậy việc chữa khỏi bệnh tiểu đường là mong mỏi của tất cả mọi người. Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu tới các độc giả về bài thuốc nam chữa bệnh tiểu đường từ cây lá dứa trị tiểu đường.
Lá dứa trị tiểu đường rất hiệu quả
Cây dứa dại trị bệnh tiểu đường là bài thuốc dân gian rất hiệu quả

Bài thuốc từ cây lá dứa trị bệnh tiểu đường

Lá dứa trị tiểu đường rất hiệu quả
Lá dứa có tác dụng trị bệnh tiểu đường

Lá dứa là loại lá có mùi thơm khi bỏ vào cơm hay chè. Lá Dứa mua về rửa sạch đem phơi khô nhưng vẫn còn thấy màu xanh. Mỗi lần nấu chừng 10 lá Dứa, cắt nhỏ ra, với 2.5 lít nước, khi thấy còn lại chừng 2 lít là có thể dùng được. Với 2 lít nước lá Dứa nầy uống hết trong 1 ngày. Uống trước mỗi bữa ăn chừng 20 phút. Nếu 1 ngày ăn 3 lần thì mỗi lần uống 0,7 lít nước lá Dứa. Uống 1 tuần lễ mới bắt đầu có kết quả.
Khi dùng bài thuốc lá dứa trị tiểu đường người bệnh phải kiên trì thì mới công dụng tuyệt vời mà nó mang lại.
Phụ nữ dễ mắc bệnh thoái hóa khớp

Phụ nữ dễ mắc bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp thường xảy ra ở người cao tuổi, nhưng hiện nay quá trình thoái hoá khớp lại  trẻ hóa, thường bắt đầu từ khá sớm và hay xảy ra ở phụ nữ.

Theo giới chuyên môn, từ tuổi ngoài 30 lượng xương của phụ nữ đã dần dần thoái hóa, khi đến thời kỳ mãn kinh thì bệnh thoái hóa khớp tiến triển rất nhanh và nếu không được chăm sóc kịp thời thì sẽ dẫn tới nhiều bệnh về xương, trong đó có thoái hoá khớp.

Thoái hoá khớp thường tấn công người già và phụ nữ, khiến cho bệnh nhân bị hạn chế cử động khớp, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế. Tuy nguy cơ tử vong không như cao huyết áp và tiểu đường nhưng thoái hoá khớp ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân.

Thoái hoá khớp không phải của riêng người lớn tuổi, khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 tuổi và 85% người trên 80 tuổi có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong đó, khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ.

Theo TS. BS. Nguyễn Thị Mai Hồng, Phó trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai, nữ giới hay mắc bệnh thoái hoá khớp nhiều hơn nam giới, điều này có thể do phụ nữ thường làm công việc nội trợ nhiều hơn nam giới. Đặc biệt là nữ giới hay bị thoái hoá khớp gối và thường hay gặp sau lứa tuổi mãn kinh. Ngoài ra bệnh có thể gặp ở các khớp ngón tay, nhất là ngón tay cái.

Thoái hoá khớp ở nữ giới thường xảy ra đau và làm hạn chế vận động, khớp thường có tiếng kêu lục khục khi cử động do lượng acid uric trong ổ khớp giảm và các đầu xương cọ sát vào nhau. Dấu hiệu thường thấy nữa của bệnh là người bệnh thường thấy cứng khớp vào buổi sáng dưới 30 phút. Ngoài ra, còn có teo cơ nếu bệnh nhân hạn chế vận động kéo dài và thường bệnh nhân rất khó khăn trong việc lên xuống cầu thang hoặc làm các vận động hàng ngày.

Thoái hoá khớp ở phụ nữ không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa bao gồm tuổi tác, tình trạng béo phì, chấn thương nhẹ và mãn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy trong quá trình lão hóa chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thoái hoá khớp thường tiến triển chậm, khi bị thoái hoá khớp mà không phát hiện sớm để điều trị thì rất dễ dẫn đến tình trạng biến dạng khớp, làm hạn chế vận động và đôi khi làm cứng khớp.

Với nữ giới bị béo phì thường xảy ra thoái hoá khớp, vì vậy cần có chế độ giảm cân. Ngoài ra, chế độ ăn uống cần tránh các thức ăn chứa nhiều mỡ, tăng cường chế độ ăn uống có nhiều canxi và chất chống ôxy hóa. Nếu bệnh nhân có đau có thể dùng thuốc chống viêm, giảm đau từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng theo chỉ định của bác sỹ. Bên cạnh đó, cần có chế độ thể thao hợp lý như đi bộ, tuy nhiên, đối với bệnh nhân đang ở giai đoạn đau khớp thì không nên đi bộ nhiều.

Để phòng tránh thoái hoá khớp thì ngay từ lúc tuổi ngoài 40 nên có chế độ sinh hoạt và luyện tập nhẹ nhàng, đều đặn hàng ngày như: chơi thể thao, đi bộ, hạn chế mang vác nặng, làm các động tác quá sức. Đối với người cao tuổi cũng cần tập luyện nhẹ nhàng tuỳ theo sức mình và hoàn cảnh riêng. Khi có dấu hiệu nghi ngờ về khớp cần đi khám bác sỹ ngay để được tư vấn đầy đủ. Nên đi khám bệnh định kỳ để biết tình trạng sức khoẻ và biết cách phòng tránh bệnh.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012
no image

Các triệu chứng mắc bệnh tiểu đường ở người trưởng thành

Đối với những người trưởng thành, tiểu đường là một căn bệnh có thể từ từ đến gần xuất hiện mà không hề có một sự cảnh báo trước nào. Thế nhưng, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Có những dấu hiệu cảnh báo rõ ràng cho căn bệnh tiểu đường ở người trưởng thành nhưng họ thường bỏ qua hoặc nhầm lẫn với những vấn đề khác. Do tiểu đường là một căn bệnh nghiêm trọng, việc nhận ra các dấu hiệu này càng sớm càng tốt là rất quan trọng để giảm thiểu tối đa các vấn đề sức khỏe và các biến chứng phức tạp khác. Điều này đặc biệt đúng đối với những người bị béo phì – những người có nguy cơ rất lớn mắc phải bệnh tiểu đường.
Tiểu đường ở người trưởng thành
Dấu hiệu cổ điển nhất của tiểu đường ở người trưởng thành là tiểu tiện thường xuyên và khát nước liên tục. Khát nước thường là ảnh hưởng phụ của việc đi tiểu quá nhiều do cơ thể cố gắng hạn chế sự mất nước. Đi tiểu quá nhiều đặc biệt là một dấu hiệu của tiểu đường Insipidus, một dạng tiểu đường liên quan đến hóc-môn tự nhiên, không như dạng tiểu đường phổ biến hơn là Mellitus, là do nồng độ insulin không bình thường hoặc ảnh hưởng của kháng insulin.
Mờ mắt là một dấu hiệu bạn cần xem xét cẩn thận vì nó thường xuất hiện sau một thời gian dài với nồng độ đường huyết tăng cao. Rất nhiều người trưởng thành sẽ bỏ qua triệu trứng này, đổ tại do mệt mỏi hoặc do tuổi già. Bạn nên đi gặp bác sĩ để kiểm tra thị lực càng sớm càng tốt để xác định xem mờ mắt có phải là do tiểu đường hay không hay là do các vấn đề sức khỏe khác.
Các triệu chứng khác của tiểu đường ở người trưởng thành bao gồm sút cân không rõ nguyên nhân, có thể đi kèm với thường xuyên đói một cách kỳ lạ cũng như mệt mỏi hoặc dễ bị kích động. Đương nhiên rằng, có rất nhiều căn bệnh và vấn đề khác có thể gây ra một vài trong số các triệu trứng này, đặc biệt là ở những người trưởng thành, khiến cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn. Có ai mà không có lúc dễ bị kích động hay mệt mỏi? Nhưng sự xuất hiện liên tục của các triệu chứng này là đáng lo ngại. Mệt mỏi một vài ngày thì chưa chắc đã có vấn đề gì nhưng nếu trong vòng vài tuần thì nên đến gặp bác sĩ.
Tiểu đường có thể được điều trị dễ dàng hơn nếu được phát hiện sớm, đặc biệt là ở người lớn. Nếu như đường hoặc kháng insulin là vấn đề, kiểm soát một cách cẩn thận chế độ ăn và tập luyện thường xuyên có thể là tất cả những gì cần làm để điều trị căn bệnh này. Đối với một số trường hợp khác, các loại thuốc có thể sẽ phải được yêu cầu. Căn bệnh này càng được phát hiện sớm, bạn càng có thể giải quyết chúng một cách tốt hơn.
Nhà thuốc An Dược tự hào là nhà thuốc nam thành công trong điều trị bệnh tiểu đường
Chế biến hạt gấc chữa bệnh viêm khớp

Chế biến hạt gấc chữa bệnh viêm khớp

Như chúng ta đã từng biết, mật gấu là vị thuốc vô cùng hiếm, dùng trị chấn thương, đau nhức do bị tích tụ huyết, người kiệt sức, suy tim mạch, suy thận…

Tuy nhiên, mật gấu thiên nhiên không dễ dàng mà có được, nuôi gấu lấy mật cũng rất tốn kém và nguy hiểm. Dưới đây, xin được giới thiệu tới bạn đọc bài thuốc quý từ cây gấc của dòng họ Lý, dân tộc Sán Dìu (huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).

Gấc thuộc loại dây leo, lá và dây màu xanh đậm. Hạt gấc chữa trị nhiều bệnh có giá trị hiệu quả cao, dễ tìm, dễ chế biến và dễ sử dụng, tác dụng dược tính hiệu nghiệm không kém mật gấu.

Hạt gấc (quả chín cây) màu xám sẫm, tròn hoặc từa tựa bánh xe răng cưa, vỏ cứng chọn lấy 30 đến 45 hạt đem rửa thật sạch, để ráo, nướng vàng một mặt, còn mặt kia nướng gần cháy lớp vỏ trên bếp tha củi. Sau đó, mang hạ thổ. Tiếp đến, bóc hết lớp vỏ, cho phần nhân vào cối, dùng chày giã nhỏ, gần nát (lưu ý không được dùng máy xay sinh tố để xay, vì như vậy sẽ làm mất hết công dụng của hạt gấc).

Đem tất cả cho vào bình thủy tinh (tuyệt đối không được sử dụng bình bằng nhựa), rồi dùng 1-2lít rượu gạo ngâm vào (rượu càng nặng, càng tốt). Ngâm khoảng 1 tháng rượu thuốc sẽ hóa đỏ bầm, mùi hơi hắc, vị chát đắng là có thể đem ra sử dụng (ngâm càng lâu, càng có tác dụng), chỉ xoa bóp chứ không được uống.

Công dụng: Chữa các bệnh như đau cơ, đau khớp, các vết đau bầm tím… Mỗi lần từ 5-10ml rượu, xoa bóp, chà xát đều vào vùng tổn thương.

Lưu ý: Không bôi lên các vết thương hở. Tác dụng sau nửa giờ. Ngoài ra có thể ngậm trong miệng chữa các bệnh như sâu răng, viêm họng, viêm nướu (lợi), chảy máu chân răng. Đặc biệt, chữa được bệnh quai bị (không phân biệt lứa tuổi), 4 hạt gấc rang cháy, tán nhuyễn, một phần cho vào 10ml nước, khuấy đều, chia làm 2 phần uống trong ngày, uống liên tục 5 ngày. Một phần dùng đắp lên vùng bị quai bị.

Tuyệt đối lưu ý: Hạt gấc có độc, không được uống.