Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013
Điều trị đau cột sống thắt lưng

Điều trị đau cột sống thắt lưng

1. Điều trị nội khoa.
1.1. Bất động.
- Là biện pháp cần thiết trong điều trị đau thắt lưng cấp và thoát vị đĩa đệm nặng. Nằm bất động tương đối trên phản cứng, ở tư thế ngửa, 2 chân hơi co ở khớp gối và khớp háng để chùng cơ và giảm áp lực nội đĩa đệm (có thể cho gối tròn đệm vào vùng khoeo). Thời gian bất động 1-2 ngày, nếu nặng có thể 5-6 ngày. Khi gần hết thời gian bất động thì bắt đầu cho vận động tăng dần: ngồi dậy, đi lại, tập một số động tác thể dục nhẹ.

- Khi nằm bất động lâu cần đề phòng loét điểm tỳ: bằng co duỗi chân, nghiêng người nhẹ nhàng, đệm lót lớp chăn mỏng.

1.2. Thuốc giảm đau chống viêm, giãn cơ. 
- Thuốc giảm đau: uống hoặc tiêm tùy mức độ, các thuốc có thể dùng là:

+ Aspirin pH8 0,5 liều 1-3g/24h chia 2-3 lần.
+ Thuốc khác như: Voltaren, Profenid, Mobic, Vioxx...

Cần chú ý chọn liều thấp nhất có tác dụng, theo dõi chặt chễ các tác dụng phụ.
Có thể dùng các thuốc xoa bóp hoặc dán ngoài như: thuốc mỡ nọc rắn, methyl salicylat, cao dán, cồn xoa bóp... Không nên dùng các thuốc có steroid.

- Thuốc giãn cơ: nếu có co cơ cạnh sống gây vẹo và đau nhiều thì dùng các thuốc giãn cơ vân như: Myonal 50mg ngày 3 lần mỗi lần 1 viên, Mydocalm 50mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Décontracyl 250mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Diazepam 5mg ngày uống một lần 1-2 viên trước khi đi ngủ.

1.3. Các phương pháp dùng thuốc tại chỗ.
- Các phương pháp phong bế:

+ Phong bế cạnh cột sống thắt lưng: tiêm Novocain vào các điểm cạnh cột sống thắt lưng (chính là thủy châm các du huyệt thuộc kinh Bàng quang).
+ Phong bế rễ thần kinh ở khu vực lỗ ghép: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở khu vực lỗ ghép mỗi lần 15-20ml thuốc tê hoặc có thể thêm corticoid. Mỗi đợt điều trị tiêm 4-5 lần, cách hai ngày một lần.
+ Tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở ngoài màng cứng với hỗn hợp Novocain 0,5%, Vitamin B12, Hydrocortison 125mg hoặc Dexamethason 30mg, mỗi lần tiêm 5-10ml, mỗi tuần tiêm hai lần, mỗi đợt tiêm 4-5 lần.
+ Phong bế hốc xương cùng: tiêm vào hốc xương cùng 20-30ml thuốc tê có thể trộn thêm corticoid, mỗi tuần 2 lần, mỗi đợt tiêm 4 lần.

- Tiêm corticoid vào đĩa đệm để điều trị hư đĩa đệm nặng.

2. Điều trị bằng các phương pháp vật lý và châm cứu. 
2.1. Nhiệt trị liệu. 
Thường dùng nhiệt nóng như đắp paraffin 450C, túi chườm nóng, chiếu hồng ngoại... vào vùng thắt lưng 20-30 phút có tác dụng giảm đau, giãn cơ. Nhiệt khối của sóng ngắn và vi sóng có tác dụng rất tốt nhất là đối với viêm thần kinh hông to (đặt dọc dây thần kinh).

2.2. Điện trị liệu. 
- Dòng điện một chiều đều: thường dùng kết hợp điện di các thuốc Novocain, Natri salicylat có tác dụng giảm đau, chống viêm.

- Các dòng điện xung thấp và trung tần:

+ Dòng Diadynamic: phối hợp CP+LP, MF+CP, MF+LP, DF+CP, hoặc DF+LP để giảm đau, giãn cơ, có thể thay đổi kiểu xung ở lần điều trị sau để tránh hiện tượng quen.
+ Dòng TENS: có tác dụng kích thích thần kinh hướng tâm qua da để giảm đau. Dòng TENS là loại xung có tần số 60-80Hz, có thể biến đổi xoay chiều, một chiều và biến đổi thời gian xung.
+ Dòng Trobert (còn gọi là dòng 2-5), đặt điện cực dọc cột sống có tác dụng giảm đau do phản xạ, tốt nhất là khi đã dùng các dòng xung kia mà không có tác dụng nhiều.
+ Dòng giao thoa với 2 cặp điện cực (IF): có tác dụng xoáy sâu mà không gây rát.

2.3. Siêu âm điều trị. 
Siêu âm chế độ liên tục hoặc xung vào 2 bên cột sống thắt lưng và dọc theo dây thần kinh hông to. Cường độ tùy từng vùng, nếu 2 bên cột sống thắt lưng ở chế độ liên tục có thể dùng 0,6-1W/cm2. Vùng mông cho siêu âm liên tục thì dùng 1-1,2W/cm2. Vùng cẳng chân siêu âm liên tục là 0,4-0,6W/cm2. ở các vùng trên nếu dùng chế độ siêu âm xung thì cường độ có thể tăng gấp đôi.

2.4. Xoa bóp, bấm huyệt. 
Xoa bóp vùng cột sống thắt lưng ở giai đoạn đau cấp cần thao tác nhẹ nhàng tránh những tác động mạnh có thể làm đau tăng. ở giai đoạn đau mạn có thể thực hiện đầy đủ các thao tác xoa bóp mạnh như xoa, vuốt, bóp, chặt, rung... Kết hợp ấn bấm các điểm đau cột sống (các huyệt thuộc mạch Đốc trên gai đốt sống), các điểm đau cạnh sống (là các du huyệt thuộc kinh Bàng quang) và các điểm đau chạy dọc đường đi của dây thần kinh hông to (các huyệt thuộc kinh Bàng quang).

2.5. Kéo giãn. 
2.5.1. Kéo xương chậu: 
Kéo xương chậu tại giường có hai cách:

- Bệnh nhân nằm sấp với chân giường nâng cao thêm 25cm.
- Bệnh nhân nằm ngửa ở tư thế Fowler biến đổi.

Trọng lượng kéo xương chậu tùy thuộc tuổi và trọng lượng cơ thể, sự co thắt cơ nhiều hay ít, có bệnh tim mạch hay không ? Trung bình trọng lượng tạ kéo là 10-15kg, thời gian kéo là 15-20 phút, mỗi ngày kéo 1-2 lần.

2.5.2. Kéo giãn cột sống: 
Kéo giãn cột sống là tác động cơ học vào vùng kéo nhằm làm mở rộng khoang gian đốt (với trọng lực 30-40kg, sau 20 phút, có thể kéo rộng 1-1,5mm), khôi phục lại cân bằng lực cơ của các hệ thống dây chằng. Ngoài ra còn có tác dụng lâm sàng giảm đau (do giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm, giải phóng chèn ép thần kinh). Tăng dần vận động của cột sống, khôi phục vị trí đĩa đệm, giảm các di chứng (mất đường cong sinh lý, lệch vẹo cột sống...).

Có các phương pháp kéo sau:
- Kéo bằng tự trọng trên bàn dốc: lực kéo được điều chỉnh bằng độ dốc của bàn so với mặt phẳng nền, độ dốc càng lớn thì lực kéo càng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là lực kéo dàn đều từ chỗ kéo (nách) xuống mà không tập trung lực vào vùng thắt lưng.

- Kéo trên bàn kéo có hệ thống lực đối trọng là các quả cân: Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, cố định vùng thắt lưng, tiến hành kéo bằng các quả tạ. Phương pháp này có ưu điểm là có thể điều chỉnh trọng lực kéo dễ dàng, lực kéo tập trung vào vùng cột sống thắt lưng, đầu tư phương tiện rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là tạo ra lực kéo liên tục gây cho cột sống và các tổ chức xung quanh tình trạng căng giãn kéo dài có thể gây đau sau kéo hoặc gây khó chịu cho bệnh nhân trong thời gian kéo.

- Kéo trên hệ thống bàn - máy kéo: Sử dụng máy kéo tự động cho phép điều chỉnh trọng lực kéo, chọn lực nền, lực cơ sở, đặt thời gian...

Với kéo cột sống thắt lưng nên chọn lực nền bằng 1/3 trọng lượng cơ thể, lực kéo bằng 1/2 trọng lượng cơ thể trong lần kéo đầu, các lần sau mỗi lần tăng thêm 1kg đến khi đạt tới 2/3 trọng lượng cơ thể thì duy trì lực này cho đến hết đợt kéo. Thời gian duy trì lực kéo khoảng 10 giây, thời gian tăng lực từ lực nền đến lực kéo (độ dốc) nhanh hay chậm cần căn cứ vào mức độ co cứng cơ của bệnh nhân. Nếu đau cấp và co cứng cơ nhiều thì độ dốc cần tăng từ từ. Thời gian kéo 1 lần từ 15-20 phút, mỗi ngày kéo một lần, mỗi đợt kéo 10-15 ngày.

- Kéo giãn cột sống dưới nước: là hệ thống kéo giãn kết hợp thủy liệu, kéo trong bể sâu 2m với nhiệt độ ấm cho giãn cơ lúc kéo. 

2.6. Tác động cột sống (manipulation).
- Phương pháp Chiropractic (Mỹ): dựa vào cơ chế sinh - cơ học của đĩa đệm cột sống để tiến hành nắn chỉnh cột sống bằng tay nhằm giải phóng chèn ép, và giảm đau.

- Quy trình nắn chỉnh cột sống của Nguyễn Văn Thông (1992).

+ Làm mềm các cơ ở lưng, mông bằng các phương pháp như xoa bóp, nhiệt nóng, điện xung... thời gian khoảng 15-20 phút:
+ Làm giải phóng đoạn cột sống bị tắc nghẽn với 4 thao tác sau:
+ Điều chỉnh đoạn cột sống trên khu vực bị tắc nghẽn.
+ Làm mạnh các cơ giữ cột sống (cơ lưng to, cơ bụng) và làm chuyển động các khớp cột sống, khớp chậu hông.

2.7. Chương trình tập Williams. 
Chương trình tập Williams được dùng để điều trị cho bệnh nhân đau lưng mạn tính, nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng và nhóm cơ gấp xương hông, đồng thời làm tăng sức mạnh của các cơ bụng và mông. Có 6 động tác trong bài tập này như sau:

1/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối hơi cong và hai chân được cố định, bật người ngồi dạy và với tay tới ngón chân. Động tác này làm mạnh cơ bụng và giãn cơ duỗi thắt lưng.

2/ Bệnh nhân nằm ngửa, co hai chân vuông góc, hai tay duỗi xuôi thân người, đồng thời nhấc mông lên khỏi mặt giường điều trị. Tiến hành xoay khung chậu về 2 phía để làm thắt lưng thẳng hơn. Động tác này nhằm làm mạnh cơ bụng và cơ mông, làm giãn cơ gấp khớp hông.

3/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối co, hai tay ôm lấy hai đầu gối rồi kéo mạnh lên đồng thời nâng cằm lên cho chạm đầu gối. Giữ tư thế này 15 giây rồi nằm dài ra nghỉ. Hoặc hai tay vẫn giữ tư thế ôm gối rồi bật người ngồi dậy. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng dưới.

4/ Bệnh nhân ngồi, duỗi thẳng hai gối, đưa tay thẳng ra tới ngón chân. Bài tập này nhằm làm giãn khối cơ duỗi lưng và cơ tứ đầu đùi.

5/ Bệnh nhân một chân phía trước gấp, một chân phía sau duỗi, hai tay chống xuống đất ở phía trước, rồi ép chậu hông xuống. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ gấp hông (cơ thắt lưng chậu) mà không làm tăng độ ưỡn của cột sống.

6/ Bệnh nhân ngồi xổm và đầu cúi, hai bàn chân đặt cách nhan 30cm, tay để thẳng hướng về phía sàn nhà và ở giữa hai gối. Động tác này nhằm làm giãn nhóm co duỗi thắt lưng.

Trong mỗi lần tập, mỗi động tác trên được tiến hành 5-10 lần tuỳ sức chịu đựng.

2.8. Châm cứu.
- Đau lưng cục bộ chủ yếu chọn các huyệt thuộc kinh Bàng quang như: Thận du, Mệnh môn, Đại trường du, Thứ liêu, Dương lăng tuyền, Uỷ trung, Thừa sơn, và A thị. Có thể chọn thêm các huyệt Hoa Đà Giáp Tích (ngang mỏm gai các đốt sống đo ra 0,5 thốn). Nếu đau thần kinh hông to, chọn các huyệt chủ yếu thuộc kinh Bàng quang và kinh Đởm: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Đại trường du, Thừa phù, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn... Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, khi châm mỗi huyệt đều đạt đến cảm giác đắc khí lan xuống dưới.

- Nếu dùng điện châm, nên chọn dòng xung gai nhọn hoặc chữ nhật, có tần số từ 20-150Hz, chú ý mắc các cặp điện cực sao cho dòng điện đi qua điểm đau, hoặc chạy dọc theo đường đi của dây thần kinh hông to, điều chỉnh cường độ đến dưới ngưỡng đau sau đó cứ vài phút thì tăng cường độ lên một chút. Có thể kết hợp vừa châm vừa chiếu hồng ngoại vào vùng đau.
Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013
no image

Đau lưng: cột sống và chế độ ăn uống

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau lưng, trong đó không loại trừ khả năng nó là triệu chứng của một căn bệnh nghiêm trọng.

Cột sống và những cơn đau

Đầu tiên, bệnh đau lưng có thể liên quan đến cột sống. Đặc biệt là với những người thường phải ngồi làm việc lâu và ít hoạt động thể chất. Những người ngồi máy tính và những người phải đứng bất động lâu cũng hay bị đau lưng.

Nếu không có biện pháp phòng ngừa thì lâu dần sẽ bị lệch đốt sống và các gốc thần kinh cột sống. Người bệnh sẽ cảm thấy đau đớn. Đôi khi điều này sẽ dẫn đến mất một phần khả năng lao động, người bệnh sẽ không thể làm một số công việc nào đó.

Nếu công việc của bạn buộc phải ngồi nhiều giờ hoặc phải đứng yên một chỗ, hãy cố gắng nửa tiếng một lần, vận động cho giãn gân cốt, ví dụ như đứng lên đi lại trong phòng, hoặc tốt hơn nữa là làm vài động tác thể dục lưng như cúi gập người về phía trước, sang hai bên và ngả ra phía sau… điều đó tránh cho cột sống bị teo.

Và sẽ rất tốt nếu bạn tập thể dục 10-15 phút mỗi ngày. Để phòng chống bệnh đau lưng, bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau. Nếu bạn bắt buộc phải đứng lâu, hãy cố gắng dồn trọng lượng cơ thể cho cả hai chân, hoặc thay đổi chân thường xuyên.

Nếu bạn phải nâng vật gì đó từ dưới sàn nhà, hãy giữ lưng thẳng. Còn nếu mang vật nặng, hãy dừng lại để nghỉ nhiều hơn và đổi tay. Không nên đi giày cao hơn 4cm.

Bác sĩ khuyên bạn không nên nằm ngủ trên bề mặt cứng. Còn nằm trên nệm quá mềm, khi ngủ cột sống của bạn bị võng xuống, khiến cho cơ bắp bị đè nặng. Ban đầu ngủ dậy bạn thấy mỏi lưng, sau đó dẫn đến bệnh đau lưng.

Đau lưng do chế độ ăn uống

Đau phần lưng còn do chế độ ăn uống không hợp lý. Thiếu các chất khoáng như canxi, phốt pho, kali và magiê có thể dẫn tới bệnh loãng xương, làm cho xương cột sống dễ gãy và xốp.

Do đó cần phải ăn thường xuyên các loại thực phẩm như pho mát tươi béo, bắp cải, cà rốt, các loại đỗ, đậu côve, gạo, củ cải đỏ, hồ đào… Chúng ta vẫn có thói quen ăn đường trắng, tuy vậy cũng nên hạn chế bởi cơ thể muốn hấp thụ được thì phải tiêu hao một số dưỡng chất và điều đó làm cho cột sống của chúng ta yếu đi.

Cần nói thêm là, không phải khi nào bạn cảm thấy đau ở lưng tức là bệnh của bạn chính là đau lưng. Mà cơn đau đó còn có thể liên quan tới các cơ quan nội tạng. Đau ở tim có thể cảm thấy đau bên vai trái. Còn cơn đau âm ỉ ở vai phải có thể do triệu chứng bệnh của tuyến tụy.

Vì vậy, khi thấy xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên, hãy đi khám bác sĩ và tiến hành kiểm tra đầy đủ, không nên tự điều trị. Bởi khi có dấu hiệu đau lưng, chúng ta thường tự chữa bằng cách xoa bóp hoặc mát-xa, mà điều đó nhiều khi lại có hại.

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Các vấn đề về đau cột sống thắt lưng

Các vấn đề về đau cột sống thắt lưng

I. CHỨC NĂNG CỦA CỘT SỐNG:
Cột sống được cấu tạo bởi các đốt sống và đĩa đệm xếp chồng lên nhau. Cột sống được phân làm 5 đoạn được sắp xếp từ trên xuống dưới như sau:

  1. Đoạn cột sống cổ : có 7 đốt sống cổ
  2. Đoạn cột sống lưng: có 12 đốt sống ngực
  3. Đoạn cột sống thắt lưng: có 5 đốt sống thắt lưng
  4. Xương cùng : có 5 đốt dính liền nhau
  5. Xương cụt còn gọi là xương đuôi (tailbone) dính thành một khối: có 4 đốt sống dính nhau một khối khó phân biệt
Tổng số có 33 đốt sống, tuy nhiên số đốt sống có thể thay đổi từ 32 đến 34 đốt do có khi thừa hay thiếu một đốt sống, thường xảy ra ở đoạn thắt lưng hay đoạn xương cùng.  

Chức năng của cột sống như sau:
·  Che chở tuỷ sống:
Trong cột sống có chứa ống sống dài từ sống cổ đến đoạn sống cùng, bên trong chứa tủy sống. Tủy sống tiếp nối não bộ ở bên trên, tủy sống và não bộ cấu tạo nên hệ thần kinh trung ương.
·  Vận động:
Vận động của cột sống thay đổi tùy vùng. Đĩa đệm là khối sụn giữa 2 đốt sống, giữa hai đốt sống còn có mấu khớp hai bên. Nhờ có đĩa đệm và mấu khớp mà cột sống có các vận động như gấp-duỗi, nghiêng phải-nghiêng trái và vận động xoay. Đoạn cột sống cổ sự chuyển động là phong phú nhất. Đoạn sống ngực vận động ít nhất vì các đốt sống ngực gắn với các xương sườn tạo thành lồng ngực nên vận động rất hạn chế. Đoạn sống thắt lưng chủ yếu vận động gấp và duỗi, đoạn thắt lưng trên thì có thể vận động nghiêng một ít.
·  Chịu tải trọng của cơ thể:
Phần cuối của đoan cột sống thắt lưng là chịu lực nhiều nhất nên bệnh lý thường xảy ra ở đoạn này
·   Che chở nội tạng:
     -  Đoạn cột sống ngực cùng với các xương sườn tạo thành lồng ngực che chở phổi và tim
     -  Đoạn cột sống thắt lưng cùng với các cơ thành bụng phía trước che chở nội tạng của bụng
II. BỆNH ĐAU CỘT SỐNG LƯNG:
Bệnh lý đau cột sống thắt lưng thường gặp với tần xuất 80% xảy ra ở tất cả mọi người trong đời của họ. Nguyên nhân của đau cột sống thắt lưng rất nhiều, nếu không kể các bệnh viêm nhiễm và chấn thương như do tai nạn giao thông hay té ngã thì đau lưng có thể do các nguyên nhân sau:
   - Tổn thương mô mềm như gân cơ, dây chằng do làm việc quá sức
   -  Lồi hoặc thoát vị đĩa đệm cấp tính do lao động sai tư thế
   -  Thoái hóa đĩa đệm và mấu khớp ở người lớn tuổi dễ dẫn đến bệnh lý thoát vị đĩa đệm và mất vững cột sống
Tính về thời gian bị đau lưng thì chia làm đau thắt lưng cấp tính và mãn tính:
  Ø  Đau thắt lưng cấp tính: đau < 4 tuần, thường do gắng sức hoặc do lao động sai tư thế
  Ø  Đau thắt lưng mãn tính : đau xuất hiện từ từ và tăng dần thường lâu hơn 4 tuần
Về điều trị:
  -  Đối với đau cấp tính: - cần nằm nghỉ - Chườm lạnh ngày đầu, các ngày sau chườm nóng – Thuốc giảm đau và dãn cơ – sau đó tập nhẹ nhàng duỗi cơ thắt lưng và cơ thành bụng
  -  Khám lâm sàng và làm xét nghiệm về hình ảnh để có chẩn đoán tổn thương thực thể
  -  Sau thời gian điều trị nội khoa không đở thì tùy tổn thương thực thể ví dụ thoát vị đĩa đệm, mất vững đốt sống hoặc hẹp ống sống thì có thể nghĩ đến điều trị phẫu thuật.
Cách phòng ngừa: 
  o  Trong sinh hoạt, lao động, thể thao cần giữ tư thế đúng
  o  Tránh khom cúi, ngồi xổm mà khiêng vác vật nặng
  o  Không ngồi một tư thế quá lâu
  o  Tập thể dục đều đặn, chú ý các động tác làm tăng cường sức mạnh các cơ quanh cột sống, nhất là chú ý tập căng dãn, duỗi cột sống thắt lưng.
Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013
Bài tập dành cho bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ và cột sống thắt lưng

Bài tập dành cho bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ và cột sống thắt lưng

A. Bài tập dành cho cột sống cổ

1. Động tác 1:
Ngồi thẳng người trên ghế, hai chân vuông góc với đùi, đùi vuông góc với thân, lưng thẳng, hai vai giữ nguyên cúi gập cằm tối đa vào ngực, hít vào khi thở ra ngửa cổ ra tối đa, đưa đầu trở về tư thế bình thường vẫn giữ nguyên vai nghiêng đầu sang trái, rồi sang phải (kết hợp hít vào thở ra đều đặn). Làm từ 10 đến 20 lần.
2. Động tác 2:
Vẫn ngồi ở tư thế trên, giữ nguyên vai, gập đầu vuông góc với thân và quay tròn cổ theo kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ (kết hợp hít vào thở ra đều đặn). Làm từ 10 đến 20 lần.

3. Động tác 3:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai tay xuôi theo thân, lấy phần cao nhất của mông và phần nhô cao nhất của đầu (phía sau) làm điểm tựa nâng vai và thân lên như hình cái thuyền (hít vào thở ra đều đặn). Làm từ 10 đến 20 lần.
4. Động tác 4:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng chống hai chân, hai bàn tay bắt chéo nhau đưa ra sau gáy. Dùng sức của cổ và hai tay đưa đầu về phía đầu gối của hai chân (hít vào thở ra đều đặn). Làm từ 10 đến 20 nhịp.
5. Động tác 5:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai chân co, bắt chéo chân (gót chân nọ để trên gối chân kia) hai bàn tay đan chéo vào nhau đưa ra sau gáy đưa khuỷu tay bên này về phía gối bên đối diện (bắt chéo). Hít vào thở ra đều đặn, làm từ 10 đến 20 nhịp.
6. Động tác 6:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai tay xuôi theo thân. Dùng sức của cổ và lưng đưa thân về phía trước, áp mặt càng sát hai đầu gối càng tốt. Hít vào thở ra đều. Làm 10 nhịp.
B. Bài tập dành cho cột sống thắt lưng
1. Động tác 1:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, co hai chân, gập cẳng chân vào đùi, gập đùi vào bụng, hai bàn tay đan chéo vào nhau đặt trên hai đầu gối. Khi hít vào dùng tay kéo đùi áp sát vào bụng, khi thở ra lại đưa đùi và gối về tư thế ban đầu. Làm từ 15 – 20 nhịp.
2. Động tác 2:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng vẫn giữ nguyên ở tư thế trên; giữ nguyên phần  thân trên nghiêng chân sang phải rồi sang trái, đầu gối càng áp sát mặt sàn càng tốt. Làm mỗi chân từ 15 đến 20 nhịp.

3. Động tác 3:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai tay xuôi theo thân, giữ nguyên phần thân trên (từ phần eo trở lên) vắt từng chân sang bên đối diện. Mỗi bên làm từ 15 – 20 nhịp.
4. Động tác 4:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai chân co, cẳng chân gập vào đùi, đùi vuông góc với thân, hai bàn tay để trên hai đầu gối xoay tròn hai chân theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ. Mỗi bên làm từ 15 – 20 nhịp.
5. Động tác 5:
Nằm ngửa trên mặt sàn cứng, hai tay xuôi theo thân, dùng sức của hai chân đưa chân và hông về phía mặt sao cho mũi bàn chân càng sát đất càng tốt. Làm từ 10 – 15 nhịp.
Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013
no image

Thoái hóa đốt sống cổ: Thuốc với các rối loạn đốt sống cổ

Cột sống có 33 đốt sống: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng, 5 đốt sống cùng và 4 đốt sống cụt. Tủy sống bắt đầu ở trên tại ngay lỗ lớn xương chẩm nơi tiếp cận với hành não và tận cùng ở dưới ngang mức bờ dưới đốt sống thắt lưng thứ nhất. Trên dọc chiều dài của tủy được gắn với 31 đôi dây thần kinh sống, mỗi dây được gắn với tủy sống qua một rễ trước (rễ vận động) và một rễ sau (rễ cảm giác).
Rối loạn cổ có rất nhiều nguyên nhân như gai xương, thoát vị đĩa đệm, chèn ép tăng động cột sống… do mang vật nặng, ngồi lâu trước máy (lái xe, xem tivi, vi tính), làm việc với thiết bị rung mạnh, kể cả hút thuốc… đột nhiên thấy cứng và đau cổ, có thể một bên hoặc hai bên, đối xứng hoặc không, có thể đau lan ra tay, mặt có thể lệch về một bên. Người bệnh khó thay đổi tư thế cổ vì đau, muốn nhìn về phía nào đó phải quay cả người…

Thoái hóa đốt sống cổ.
Chữa trị như thế nào?

Cẩn thận đi khám, nếu không có vấn đề gì “ghê gớm” mà chỉ là vẹo cổ đơn thuần có thể dùng các thuốc sau đây.
Thuốc giảm đau: Có nhiều loại như paracetamol hoặc paracetamol + codein như efferalgan codein hoặc có thể dùng các thuốc chống viêm, hạ sốt, giảm đau không steroid (AINS) như aspirin, ibuprofen hoặc thuốc ức chế chọn lọc COX-2 như celevoxil hoặc dẫn chất tổng hợp oxicam như piroxicam. Đau nặng có thể dùng thuốc phối hợp paracetamol AINS như alaxan (ibuprofen và paracetamol).
Kết hợp với thuốc mephenesin (biệt dược: decontractyl, decoztyl, decotatyl, decozactyl… có tác dụng thư giãn cơ, trấn tĩnh nhẹ. Dùng hỗ trợ điều trị các co thắt gây đau, thoái hóa đốt sống, vẹo cổ, rối loạn tư thế cột sống, đau lưng – thắt lưng và các tình trạng co thắt khác.
Chống chỉ định: Mẫn cảm thuốc, rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Lưu ý: Không nên dùng thuốc cho người mang thai, người nuôi con bú. Không uống rượu khi dùng thuốc, dùng liều cao thuốc gây buồn ngủ, thuốc có thể gây phản ứng da, hiếm gây sốc phản vệ. Thuốc bôi: tránh bôi vào vết thương hở, nhiễm khuẩn, niêm mạc.
Hoặc kết hợp với tolperison (bd: efelysone, miorelax, mydocalm, tomeron…).
Thuốc có tác dụng thư giãn cơ vân và giãn mạch, tác dụng trên thần kinh trung ương, ức chế quá trình phản xạ gây đau được dùng cải thiện các triệu chứng tăng trương lực cơ liên quan đến hội chứng đốt sống cổ, viêm quanh khớp vai, thắt lưng, liệt cứng liên quan đến bệnh mạch máu não – tủy, thoái hóa đốt sống, di chứng phẫu thuật, chấn thương, xơ cứng cột bên teo cơ, bại não, thoái hóa não – tủy, bệnh mạch máu tủy và các bệnh não tủy khác.
Chống chỉ định: Nhạy cảm quá mẫn với thuốc, nhược cơ năng, mang thai. Người nuôi con bú, thuốc tiêm với trẻ em.
Lưu ý: Có thể bị nhược cơ, nhức đầu, hạ huyết áp, buồn nôn, nôn, đau bụng, ngứa ban, mày đay, phù thần kinh mặt, khó thở. Có thể tăng GOT, GPT, protein niệu, tê đầu chi, co cứng hoặc run chi, chóng mặt, bừng mặt, đổ mồ hôi… Hiếm sốc phản vệ.
Cũng có thể dùng thay thế bởi methocarbamol hoặc eperison (chất tương quan hóa học).
Tập luyện: Tùy mức độ đau, vẹo cổ, luyện tập cho vừa phải. Nằm giường hoặc đệm cứng, không gối đầu cao, luyện tập đầu, cổ là chính, nhẹ nhàng quay, cúi, ngẩng nghiêng sang trái – phải. Làm việc trước máy cần có chế độ nghỉ ngơi và tập nhẹ.
Bệnh lý cổ có thể bán cấp do thoái hóa cột sống dần dà kết hợp với chấn thương nhẹ hoặc lao động quá mức gây ra, dùng thuốc (một loại giảm đau và kết hợp một loại giãn cơ) và tập luyện, bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng, hiếm tiến triển thành bệnh lý tủy. Tuy nhiên đa số người không chữa trị và luyện tập đều đặn, đến nơi đến chốn có thể có triệu chứng dai dẳng. Trường hợp bệnh lý rễ nặng, giảm chức năng vận động cần phải được phẫu thuật.
DS. Phạm Thiệp
Theo SKĐS
Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013
Thoái hóa đốt sống cổ: Vì sao uống thuốc không khỏi?

Thoái hóa đốt sống cổ: Vì sao uống thuốc không khỏi?

Họ đều có tâm trạng chung là đau tay thì phảiđiều trị tay, nhưng bác sĩ lại chỉ định điều trị đốt sống cổ nên bác sĩ đã gặpkhông ít khó khăn khi điều trị.

Nhiều bệnh nhân không tuân thủ theo cách điềutrị của thầy thuốc, thậm chí có người phản ứng rất mạnh khi nhận được kết quảkhám và chẩn đoán bệnh của bác sĩ, nhất là yêu cầu chụp Xquang đốt sống cổ.
Đau tay, chụp cổ
"Không hiểu sao bác sĩ lại chođi chụp cổ nhỉ?". "Tôi đau tay mà lại cứ bảo bị thoái hoái đốt sống cổ?".Bà Trịnh Thị M. (Gia Lâm, Hà Nội) cứ băn khoăn cầm kết quả phim chụp đốt sống cổcủa mình: thoái hoá đốt sống cổ.
Thở dài bà tâm sự: Hai tuần naybà bị đau cánh tay, chẳng làm gì được. Sáng nay con gái mới đưa bà vào Trung tâmCơ xương khớp để khám. Bác sĩ chẩn đoán bà bị thoái hoá đốt sống cổ và yêu cầubà đi chụp. Lằng nhằng mãi ở của phòng khám, bà mới quyết định đi chụp Xquang vàbây giờ là kết quả...
Anh Qu., 47 tuổi (Hoà Bình), hơn1 tháng nay anh bị đau cánh tay, bàn tay tê bì, mặc dù uống thuốc giảm đau nhưngcũng không khỏi. Một tuần nay tay anh có dấu hiệu bị teo. Đi khám ở bệnh việnhuyện, tỉnh, các bác sĩ kê đơn thuốc giảm đau, thuốc chống viêm nhưng không hềthuyên giảm. Cuối cùng anh "quyết" lên Hà Nội khám. Tại
Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnhviện E, sau khi khám xét và chụp chiếu, anh bất ngờ nhận được kết luận: thoáihoá đốt sống cổ. Anh vẫn băn khoăn: "không hiểu sao mình đau tay, đau đầu màlại bị thoái hoá cổ...".
Đi tìm nguyên nhân
"Hàng ngày, chúng tôi phảigiải thích đi giải thích lại cho hàng trăm bệnh nhân về bệnh của họ. Đặc biệt làở bệnh nhân đau thần kinh cổ - cánh tay có nguyên nhân từ thoái hoá đốt sống cổ",TS.Mai Thị Minh Tâm (Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện E) cho biết.
Trên thực tế là bệnh nhân bịthoái hoá đốt sống cổ thường có những biểu hiện dị cảm cánh tay, cẳng tay và đếntận bàn tay, đôi khi biểu hiện đau đầu không thể chịu được, ngoài ra có thểchóng mặt. Một số bệnh nhân bị đau thần kinh cánh tay rất dữ dội, đau ở cột sốngcổ và vai, đau lan xuống cánh tay, đau mặt ngoài cánh tay, đau lan đến khuỷu vàcó thể đến ngón cái, ngón trỏ, đau dai dẳng và nghỉ không thuyên giảm. Kèm theolà đau cột sống cổ, làm hạn chế vận động cột sống cổ. 
Nguyên nhân thường do chènép rễ thần kinh do gai xương nhô vào trong lỗ liên hợp hoặc do thoát vị đĩa đệmgây ra. Tiến sĩ Minh Tâm trao đổi. Trong chẩn đoán đau thần kinh cánh tay cũngcần phân biệt: viêm đĩa đốt sống, khối u ác tính hay lành tính đốt sống, khối ucủa đỉnh phổi gọi hội chứng Pancoast và Tobias, để có thể có cách thức điều trịđúng đắn.
Điều trị thế nào?
Trong điều trị thoái hoá đốt sống cổ, bác sĩthường yêu cầu chụp Xquang thường quy để chẩnđoán bệnh (chụp với 3 tư thế chụp thẳng, chụpnghiêng và chụp chếch ¾). Trong trường hợp đauquá mức cần thiết, chụp cắt lớp hoặc chụp cộnghưởng từ cột sống cổ. Chụp cộng hưởng từ cộtsống cổ cho phép phân tích chính xác mức độ éprễ và thoát vị đĩa đệm. Kết quả chụp này giúpchẩn đoán còn nghi ngờ và quyết định điều trịngoại khoa trong trường hợp điều trị nội khoakhông đáp ứng.
TS. Minh Tâm nhấn mạnh việc pháthiện mức độ của bệnh rất quan trọng để có thể có phương pháp điều trị triệt để.Việc điều trị phụ thuộc vào từng trạng thái bệnh và hoàn cảnh của bệnh. Điều trịvới mục đích làm giảm đau nhanh chóng, tránh các động tác làm khởi phát cơn đau.Có thể điều trị bằng cách không dùng thuốc: nằm ngủ trên giường phẳng, không gốiđầu cao và không sử dụng gối dài. Ban ngày tránh mang vác nặng và ngồi lâu.
Trong trường hợp bệnh nhân phảisử dụng thuốc thì các thuốc giảm đau, thuốc chống viêm không corticoide, thuốcgiãn cơ là những thuốc được dùng nhiều hơn cả. Bên cạnh đó là thuốc ức chếinterleukine-1 với hoạt chất diacereine có tác dụng chống thoái hoá trong trườnghợp mạn tính. Việc xoa bóp vùng cơ cổ và kết hợp tia hồng ngoại, chạy sóngngắn... ở đợt đau của thoái hoá cổ cũng có tác dụng khả quan.
Đối với thể đau quá mức, bệnhnhân nên nằm viện và có thể sử dụng liệu pháp corticoide tĩnh mạch. Hoặc liềucorticoide 0,5mg/kg đường uống trong 2 - 3 tuần,  đeo đai cổ mềm và bệnh nhâncần được nghỉ ngơi và kéo giãn cột sống nhẹ nhàng tại giường. Điều trị ngoạikhoa được chỉ định trong các thể đau quá mức và chống lại điều trị nội khoa vàtrường hợp giảm vận động.
Lời khuyên của thầy thuốc
TS. Mai Thị Minh Tâm khuyên, khicó biểu hiện đau ở cột sống cổ và vai, đau lan xuống cánh tay, đau mặt ngoàicánh tay, đau lan đến khuỷu, có thể đến ngón cái, ngón trỏ, đau dai dẳng và nghỉkhông thuyên giảm, có thể đau đầu, chóng mặt, thì nên đến cơ sở chuyên khoaxương khớp để khám và điều trị để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013
Phải làm gì khi bị đau do thoái hóa cột sống

Phải làm gì khi bị đau do thoái hóa cột sống

Bệnh thoái hóa cột sống thường gặp ở người trên 30 tuổi , nhưng mỗi lứa tuổi thường có loại bệnh đặc điểm như: thoát vị đĩa đệm gặp nhiều ở độ tuổi 30 - 40; thoái hóa dây chằng lại hay xảy ra ở những người 50 - 60 tuổi; thoái hóa thân đốt sống và thoái hóa phì đại khớp thường thấy ở lứa tuổi trên 60 do tình trạng chịu sức ép quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp , phần xương dưới sụn , mất tính đàn hồi của đĩa đệm , xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng. 

Thoái hóa cột sống

Thoái hóa cột sống và viêm thần kinh tọa là một bệnh lý thường gặp trong các bệnh thần kinh. Biểu lộ rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên , cảm giác khó chịu , bức bối trong cơ thể , dáng đi không thông thường , xiêu vẹo hoặc lưng còng xuống. Lưng đau đột ngột , không có căn nguyên rõ ràng. Đau tâm thần tọa ở người trẻ thường do tổn thương đĩa đệm , ở người có tuổi có khả năng do các căn nguyên khác của cột sống thắt lưng cùng ( như: hẹp ống sống , viêm khớp cột sống , viêm đĩa đệm , viêm tâm thần tọa , u tâm thần tọa gây ra thoái hóa , ung thư nguyên phát hay di căn đến cột sống. . . ). Biểu lộ đau thần kinh tọa là đau từ thắt lưng lan xuống mông , xuống chân , có khả năng kèm theo tê , yếu chân hoặc teo cơ. Chẩn đoán chính yếu dựa vào lâm sàng và các xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính , cộng hưởng từ hạt nhân , điện cơ đồ. . . 

Trong cơn đau dữ dội đột ngột , phải tìm cách nằm yên , bất động chỗ đau. Không nên xoa nắn , đấm bóp , kích thích nhiều vào chỗ đau , có khả năng dùng thêm các thuốc giảm đau và giãn cơ. Nên cẩn trọng khi dùng thuốc vì tuyệt đại đa số bệnh nhân thường mắc phải những bệnh như cao huyết áp , bệnh tim mạch , bệnh đái tháo đường , bệnh xuất huyết tiêu hóa , béo phì. . . Các thuốc giảm đau thường là dòng họ của corticoid hay gây xuất huyết dạ dày , dùng quá nhiều , quá liều dẫn đến loãng xương , đái tháo đường , huyết áp cao. . . 

Chế độ ăn cũng rất quan trọng , nên ăn bẫm chất như vậy mới giúp cho cơ thể khỏe và mau bình phục. Thịt nạc , trứng , tôm , cua , sữa chua rất tốt vì nhiều calcium , magnesium , mà không làm tăng cholesterol. . . Hạn chế đường và tinh bột , hạn chế ăn mặn , tránh các chất kích thích , gia vị , nước uống làng nhàng 1 lít/ngày. Các loại hoa quả tươi nên khuyến khích , nên uống nhiều nước chanh , cam , táo , bưởi. Ăn nhiều các loại rau xanh như: rau cải , dền , muống , giá... 
Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
Biến chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ

Biến chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ

Nếu bạn đang bị bệnh hoặc có triệu chứng bị bệnh thì hãy đến ngay các trung tâm y tế để định bệnh và điều trị bệnh sớm vì có nhiều bệnh để lâu mà không điều trị kịp thời thì sẽ có rất nhiều bến chứng đáng tiếc xảy ra. Ở bài viết này chúng ta sẽ đi tìm hiểu các thông tin về những biến chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ.

Biến chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ.
Triệu chứng dây thần kinh bị chèn ép gây đau dọc từ cổ xuống vai một hoặc cả hai bên cánh tay, chèn ép các thành động mạch đốt sống gây đau đầu, chóng mặt. Một số trường hợp đặc biệt có thể chèn ép vào tận trong tủy sống, biểu hiện bằng lưng yếu, đau tứ chi, đi lại khó khăn hoặc liệt các chi không vận động được.
Tuy vậy cần lưu ý ở người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh khác dẫn đến đau đầu chóng mặt như tăng, hạ huyết áp, xơ vữa mạch máu, rối loạn mỡ máu, rối loạn tiền mãn kinh (ở nữ giới), hoặc tai biến mạch não hay u não… Chính vì vậy bệnh nhân cần đi chiếu chụp để có kết luận rõ ràng và chữa trị kịp thời tránh để lại hậu quả đáng tiếc.
Một số người bị thoái hóa đốt sống cổ thường cảm thấy đau nhức từ bả vai lan dọc xuống cánh tay hoặc thậm chí người bệnh còn cảm thấy như có kim châm tê tê suốt dọc phía trong cánh tay, tất cả những biểu hiện này khiến họ khó nâng tay lên hoặc hạ tay xuống, cảm thấy khó khăn khi nâng vác các vật nặng.
Nếu trầm trọng, thoái hóa đốt sống cổ có thể gây biến chứng phức tạp hơn ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh của người bệnh gây nên các cảm giác như cảm giác khó nuốt, thấy vướng ở cổ, đau đầu và thấy choáng váng…
Hậu quả hội chứng tủy sống – cổ do thoái hóa đốt sống cổ rất nặng nề. Phần lớn trường hợp khối lồi hay thoát vị đĩa đệm và các chồi xương phát triển theo hướng ra bên hoặc sau – bên. Chỉ trong các trường hợp ngoại lệ, đĩa đệm mới lồi ra theo hướng trung tâm hoặc cạnh – trung tâm thì mới gây chèn ép tủy.
Hãy hạn chế để các biến chứng không xảy ra bằng cách tập thể dục, thể thao, vận động, và bổ sung các chất làm nhờn khớp. Yoga cũng là một trong những giải pháp cho việc phòng, hỗ trợ chữa bệnh thoái hóa đốt sống cổ và lưng
Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013
Thoái hóa đốt sống cổ và các biện pháp chữa bệnh hiệu quả

Thoái hóa đốt sống cổ và các biện pháp chữa bệnh hiệu quả

Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, mới đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, lúc về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ.
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ), có thể gặp ở người đi cấy, bác sĩ chuyên khoa răng, thợ trát vách…

Những dấu hiệu của thoái hóa đốt sống cổ
– Ở những người cao tuổi do quá trình lão hóa các đĩa liên đốt, các thân đốt do tưới máu kém nên dễ xuất hiện bệnh hơn so với người trẻ tuổi.
– Ở những trường hợp có người thân mắc bệnh này cũng có nguy cơ mắc nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh.
– Khi mắc bệnh, có thể lâu ngày người bệnh không thấy có cảm giác khác thường, sau đó có các dấu hiệu sau:
Khi vận động cổ thì bị đau, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay cả hai bên.
Thoái hóa đốt sống cổ rất có thể gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp ảnh hưởng đến rối loạn tuần hoàn não. Do vậy, bệnh nhân cần được thăm khám lâm sàng thần kinh, kết hợp với các thăm dò hiện đại khác để phát hiện và xử lý kịp thời. Để điều trị thoái hóa đốt sống cổ có hiệu quả, người bệnh cần được loại trừ chứng đau gáy chẩm, đau gáy bả vai, cánh tay, các tổn thương cần phẫu thuật như u tủy cổ…
Điều trị bệnh thoái hóa đốt sống cổ chủ yếu là dùng các thuốc giảm đau thông thường kết hợp với biện pháp trị liệu như tập luyện vận động cổ.
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013
Phòng và chữa thoái hóa đốt sống cổ bằng xoa bóp, bấm huyệt

Phòng và chữa thoái hóa đốt sống cổ bằng xoa bóp, bấm huyệt

Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, mới đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ.
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ, có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ), có thể gặp ở người đi cấy, thợ cắt tóc, bác sĩ chuyên khoa răng, thợ trát vách, thợ sơn trần, diễn viên xiếc...

Những biểu hiện của thoái hóa đốt sống cổ
- Ở những người cao tuổi do quá trình lão hóa các đĩa liên đốt, các thân đốt do tưới máu kém nên dễ xuất hiện bệnh hơn so với người trẻ tuổi.
- Ở những người có người thân trong gia đình mắc bệnh này cũng có nguy cơ mắc nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh.
- Khi mắc bệnh, có thể một thời gian dài người bệnh không thấy có cảm giác khác thường, sau đó có các biểu hiện sau:
Khi vận động cổ thì bị đau, cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay cả hai bên.
Thoái hóa đốt sống cổ rất có thể gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp ảnh hưởng đến rối loạn tuần hoàn não. Do vậy, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh, kết hợp với các thăm dò hiện đại khác để phát hiện và xử lý kịp thời. Để điều trị thoái hóa đốt sống cổ có hiệu quả, người bệnh cần được loại trừ chứng đau gáy chẩm, đau gáy bả vai, cánh tay, các tổn thương cần phẫu thuật như u tủy cổ... Điều trị bệnh thoái hóa đốt sống cổ chủ yếu là dùng các thuốc giảm đau thông thường kết hợp với biện pháp trị liệu như tập luyện vận động cổ, tự xoa bóp bấm huyệt. Sau đây xin giới thiệu các biện pháp đó để bạn đọc tham khảo, ứng dụng.
Phương pháp tập luyện vận động cổ
Nghiêng cổ sang phải rồi sang trái mỗi bên 10 lần. Cúi cổ về phía trước (cằm tì vào ngực càng tốt), ngửa cổ về phía sau (gáy tựa vào vai) mỗi phía 10-15 lần.
Quay cổ: Cúi đầu về phía trước quay cổ về phía vai trái về phía sau, phía vai phải rồi trở lại phía trước. Quay từ từ hết một vòng rồi quay ngược lại, mỗi chiều 5 lần.
Nhấc vai: Tự nhấc vai trái rồi đến vai phải mỗi bên 10 lần, sau đó nhấc cả hai vai cùng lúc 10 lần.
Phương pháp tự xoa bóp đốt sống cổ
Xát cổ: Lấy tay phải xát cổ trái từ trên xuống và ngược lại, mỗi bên 15 lần.
Xát gáy: Các ngón tay của hai bàn tay đan với nhau ôm vào sau gáy kéo qua kéo lại 10 lần.
Xát vùng giữa hai xương bả vai: Cúi đầu về phía trước, vắt bàn tay cùng bên ra phía sau xát trên xuống dưới lên 10-15 lần.
Bóp các cơ vùng gáy: Cúi đầu về phía trước, dùng bàn tay bóp cơ cổ từ trên xuống 10-15 lần.
Véo gân dưới nách: Dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ véo các gân dưới nách bên đối diện và ngược lại sao cho có cảm giác tê tức truyền xuống tận ngón tay.
Phương pháp bấm huyệt
Phương huyệt được chọn gồm một số huyệt như: huyệt á thị, phong trì, kiên tỉnh, hậu khê.
Huyệt á thị: Theo y học cổ tryền, huyệt á thị còn được gọi là thiên ứng huyệt, có vị trí chính là điểm đau của bệnh. Nói như vậy là ở một người bệnh có thể tìm và xác định được vài huyệt á thị. Huyệt này có thể trùng với một số huyệt khác. Khi tìm huyệt cần dùng đầu ngón tay day hoặc bấm nhẹ nhàng để phát hiện điểm đau cho chính xác. Khi đã phát hiện được điểm đau thì bấm mỗi điểm 1-2 phút.
Bấm huyệt phong trì: Đặt 2 ngón tay vào 2 huyệt (ở chỗ lõm hai bên từ chỗ lõm giữa cơ ức - đòn - chũm và phần trên cơ thang) 4 ngón kia ôm lấy đầu, dùng lực bấm vào huyệt từ 1-2 phút sao cho có cảm giác tức nóng là được.
Bấm huyệt kiên tỉnh: Dùng ngón trỏ hoặc ngón giữa bấm huyệt bên đối diện từ 1-2 phút (huyệt ở chỗ lõm đỉnh vai, khi giơ ngang tay).
Bấm huyệt hậu khê: Dùng ngón tay cái bấm huyệt bên đối diện và ngược lại từ 1-2 phút (huyệt ở đầu nếp ngang thứ 2 (phía sau) của khớp xương bàn tay – ngón tay út khi bàn tay hơi nắm lại).
Chú ý: Khi bấm huyệt cần thực hiện tốt thao tác bấm, dùng đầu ngón tay cái hoặc ngón tay cái, ngón tay trỏ để bấm huyệt, cần bấm vuông góc với huyệt để tạo được lực bấm mạnh, đây chính là cung phản xạ cảm giác đau ở người bệnh mà khoa học đã chứng minh.
Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013
Bien chung do thoai hoa dot song co la gi

Bien chung do thoai hoa dot song co la gi




Thoai hoa khop la ton thuong thoai hoa cua sun khop, dac trung boi qua trinh mat sun khop va hinh thanh to chuc xuong tan tao canh khop. Voi thoai hoa cot song noi chung va cot song co noi rieng, qua trinh lao hoa xay ra o dia dem va to chuc xuong dot song. Day la mot benh khop thuong gap nhat o nguoi co tuoi gay dau va han che van dong. Chan doan thoai hoa cot song co: benh nhan dau moi kieu co hoc, dau tang khi van dong, giam khi nghi ngoi; han che van dong cot song co: kho cui, ngua, nghieng, quay co; kem tieng lac rac khi van dong cot song. Thoai hoa cot song co co the khong co trieu chung ma chi co hinh anh tren Xquang. Chup Xquang thay co hinh anh tam chung cua thoai hoa: hep khe khop, dac xuong duoi sun va moc gai xuong (mo xuong).
Cac bien chung co the gap cua benh bao gom cac trieu chung chen ep than kinh gay dau doc tu co xuong vai va canh tay mot hoac ca hai ben; chen ep cac dong mach dot song gay dau dau, chong mat; han huu co chen ep tuy, bieu hien bang yeu, dau tu chi, di lai kho khan hoac liet khong van dong duoc.
Truong hop cua bac, dau dau chong mat co the do thoai hoa gay chen ep dong mach dot song. Tuy nhien can luu y o nguoi cao tuoi co the mac cac benh khac dan den dau dau chong mat nhu tang huyet ap hoac ha huyet ap, xo vua mach mau, roi loan mo mau, roi loan tien man kinh (o nu gioi), hoac tai bien mach nao hay u nao... Chinh vi vay bac nen den cac co so y te de kham toan dien, chan doan va dieu tri dung benh.
Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013
Tự chẩn đoán thoái hóa cột sống cổ

Tự chẩn đoán thoái hóa cột sống cổ

Hội chứng do thoái hoá đốt sống cổ còn được gọi là bệnh thoái hoá đốt sống cổ, là một loại bệnh thường hay gặp ở những người cao tuổi, người làm việc văn phòng; lái xe... 

Thoái hóa đốt sống cổ thường do các đốt sống bị tăng sinh, vôi hoá, biến dạng... chèn ép kích thích vào các tổ chức phần mềm xung quanh cột sống mà xuất hiện hàng loạt các triệu chứng như ép rễ thần kinh cổ, ép tuỷ sống cổ, rối loạn thần kinh giao cảm mạch máu vùng cổ và vai. Khi bị kích thích đột ngột hoặc chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống dẫn đến cung cấp máu không đủ ở động mạch sống nền, khi thần kinh giao cảm cổ bị kích thích có thể phát sinh rối loạn thần kinh giao cảm. 

Người bị thoái hoá đốt sống cổ thường bị đau ở cổ, ở đầu, tai, trán, bả vai và cánh tay trên, ngón tay bị tê mỏi, lạnh, làm cho hoạt động phần cổ bị hạn chế (khi vận động mạnh bị đau dữ dội, khi đầu chuyển động đến một vị trí nào đó dẫn đến thiếu máu ở não) người bệnh cảm thấy nôn nao, chóng mặt, có lúc có thể xuất hiện hiện tượng chi dưới yếu hoặc bị ngã đột ngột. Người bị thoái hoá đốt sống cổ bị ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống. Trong lâm sàng sử dụng đồng thời nhiều phương pháp điều trị; biện pháp vận động cũng là một trong những phương pháp điều trị tích cực có hiệu quả nhằm làm giảm dần đau, tăng được tính đàn hồi dây chằng, các cơ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, ổn định cơ năng của khớp là vô cùng quan trọng.

Khi cột sống cổ bị thoái hoá, mọc gai xương sẽ gây chèn ép vào các rễ thần kinh chi phối cho vùng bả vai và gây ra triệu chứng đau vai: Thoái hoá cổ 5, sẽ có rối loạn cảm giác ở phía vai ngoài, đau lan đến  khuỷu, cơ delta, cơ trên gai, cơ nhị đầu. Thoái hoá C6 thì đau lan từ vai đến mặt ngoài cánh tay, tê ngón tay cái, có khi cả ngón 2. Thoá hoá C7 thì đau mặt sau vai lan đến cổ tay. Rối loạn cảm giác cơ tam đầu, cơ duỗi bàn tay và mu bàn tay và ngón tay 2 - 3, đôi khi cả ngón 4. Thoái hóa C8 thì đau ở mặt trong cánh tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, ngón 4 và ngón út.