Hiển thị các bài đăng có nhãn thoát vị đĩa đệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thoát vị đĩa đệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013
Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống

Thoát vị đĩa đệm cột sống là bệnh thường gặp trong xã hội hiện nay. Nguyên nhân gây ra bệnh có rất nhiều như phải ngồi làm việc nhiều trong điều hòa, vận động ít, ăn uống thiếu lành mạnh, bia rượu, thuốc lá… khiến thoát vị đĩa đệm ngày càng phổ biến và trẻ hóa. Cần nhận biết một số triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống để có thể điều trị bệnh hiệu quả.

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống

Theo thống kê cho thấy, thoát vị đĩa đệm phụ thuộc các yếu tố như: nam giới bị nhiều hơn nữ. Thường gặp ở độ tuổi lao động từ 20 – 50 tuổi. Dưới 18 và trên 60 tuổi rất hiếm gặp. Những người làm việc nặng nhọc, tư thế làm việc buộc cột sống vận động quá giới hạn như quá ưỡn, quá khom người, vẹo cột sống; đặc biệt sự thoái hoá đĩa đệm. Nói chung theo thời gian đĩa đệm sẽ thoái hoá nhưng nhanh hay chậm tùy thuộc từng người, nếu chấn thương thì đĩa đệm thoái hoá nhanh hơn. Do đó có người thoát vị rất sớm dù không phải lao động nặng.

Thoát vị đĩa đệm cột sống thường gặp ở 2 vị trí đó là thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và thoát vị đĩa đệm cột sống lưng.

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

1. Triệu chứng chủ quan:

+ Đau cổ cục bộ.

- Đau xuất hiện sớm và thường là triệu chứng đầu tiên của bệnh:

Đau từ đĩa đệm (đau do mất tải trọng) là do đĩa đệm (đã bị thoái hoá) tăng hấp thu dịch thể sẽ bị chứa căng nước, phình lên, chèn vào dây chằng dọc sau (rất nhạy cảm với đau), nhưng khi ngồi dậy và vận động cột sống cổ, sự cân bằng áp lực sẽ nhanh chóng được hồi phục lại, các biểu hiện đau sẽ mất đi.

- Đau khu trú ở vùng gáy lan lên chẩm hoặc xuống vai.
- Tính chất đau: đau rát, đau nông ở vùng do rễ thần kinh cổ chi phối (neuralgia) hoặc đau sâu trong cơ (myalgia) vai, gáy.
- Đau tăng khi vận động cột sống cổ.
- “Đau cổ cục bộ” gồm:
- Đau vùng gáy cấp tính hay vẹo cổ cấp:

. Khởi phát sau lao động nặng, bị lạnh.
. Đau vùng gáy một bên, đau lan lên chẩm, đầu có thể ngoẹo về một bên không quay được, thường khỏi sau vài ngày, dễ tái phát.
- Đau vùng gáy mạn tính:
. Đau âm ỉ khi tăng, khi giảm, lan ít.
. Hạn chế vận động cột sống cổ khi gấp, duỗi, nghiêng, xoay, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ.

2. Triệu chứng khách quan:

- Có điểm đau cột sống (khi ấn mỏm gai cột sống cổ).
- Có điểm đau cạnh sống.
- Có cứng cơ cạnh sống.
- Có tư thế chống đau: nghiêng đầu về một bên đau, vai bên đau nâng cao hơn bên lành.
- Đau tăng lên khi vừa ấn đầu bệnh nhân xuống vừa gấp, duỗi, nghiêng, xoay cổ.

Nghiệm pháp Schpurling: vừa quay vừa ấn đầu xuống: đau tăng lên.

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống lưng.

- Có yếu tố chấn thương cột sống thắt lưng từ từ hay đột ngột.

- Bệnh nhân đau thắt lưng theo đường đi của rễ, dây thần kinh hông to, đau có tính chất cơ học (đau tăng khi vận động, ho, hắt hơi, giảm khí nghỉ ngơi).

- Có hội chứng cột sống thắt lưng: lệch vẹo cột sống thắt lưng, co cứng cơ cạnh sống, tầm vận động cột sống thắt lưng giảm, có điểm đau cột sống, chỉ số Schober giảm dưới 13/10, khoảng cỏch ngón tay – mặt đất tăng.

- Có hội chứng rễ thần kinh thắt lưng cùng: có điểm đau cạnh sống, dấu hiệu “bấm chuông” dương tính, điểm đau Valleix dương tính, nghiệm pháp Lasègue dương tính. Rối loạn vận động, cảm giác, phản xạ, dinh dưỡng tuỳ theo rễ L5 hay S1 bị tổn thương.

+ Nếu tổn thương rễ L5: có điểm đau cột sống L5, điểm đau cạnh sống L4 – L5, dấu hiệu “chuông bấm” dương tính, yếu sức cơ gấp bàn chân về phía mu chân, yếu cơ duỗi các ngón chân, nghiệm pháp đứng trên gót chân dương tính, giảm cảm giác vùng trước ngoài cẳng chân, mu bàn chân đến ngón 1, ngón 2, teo cơ trước ngoài cẳng chân, không có rối loạn phản xạ gân xương.

+ Nếu tổn thương rễ S1: có điểm đau cột sống S1, điểm đau cạnh sống L5 – S1, dấu hiệu “chuông bấm” dương tính, yếu nhóm cơ dép không gấp bàn chân về phía gan chân được, yếu cơ gấp bàn chân, nghiệm pháp đứng trên mũi chân dương tính, giảm cảm giác (vùng gót chân, gan bàn chân, ngón 4, ngón 5), teo cơ dép, giảm phản xạ gân gót.

Cần phát hiện sớm các triệu chứng thoát vị đĩa đệm để giúp người bệnh có thể nhanh chóng đẩy lùi những cơn đau của bệnh.
Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013
Các phương pháp điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng

Các phương pháp điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng

Khi điều trị  thoát vị đĩa đệm thắt lưng có thể lưu ý đến phương pháp điều trị nội khoa, tập thể dục điều trị.


Điều trị nội khoa

- Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường 1-2 tuần.

- Điều trị vật lý: tia hồng ngoại, bó paraphin, chườm nóng bằng cám rang, muối rang hoặc ngải cứu.

- Dùng dòng điện: sóng ngắn, điện xung, điện phân.

- Châm cứu giảm đau, tia lase

- Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm, vitamin nhóm B. Phong bế tại chỗ bằng novocain.

Phương pháp nắn chỉnh cột sống: kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền. Người thầy thuốc chỉ dùng tay để chữa bệnh.


Thể dục điều trị: sau thời gian cấp tính, cần tiến hành thể dục điều trị, nhằm cải thiện chức năng của các cơ giữ tư thế cho cột sống, hạn chế biến dạng cột sống, chống teo cơ. Có thể tập theo các bài thể dục sau:

Bài 1: tập căng giãn cột sống

- Động tác 1: nằm ngửa trên giường, cẳng chân gấp vào đùi, 2 tay kéo đầu gối áp sát vào ngực. Đầu và phần trên thân nhấc lên và uốn cong về phía bụng.

- Động tác 2: đẩy 1 chân xuống giường, dùng 2 tay kéo chân kia về phía ngực, rồi đổi bên.

- Động tác 3: ngồi trên giường, gấp 2 chân sát gót vào mông, 2 tay ôm đầu gối, đầu và thân gấp tối đa.

- Động tác 4: tư thế đứng, 2 chân rộng bằng vai, một tay duỗi theo thân, tay kia giơ lên phía sau đầu, cẳng tay vuông góc với cánh tay, nghiêng tối đa sang bên tay xuôi rồi đổi bên.

Bài 2: tập nâng khung chậu

Nằm ngửa, 2 chân hơi co, chống xuống giường bằng 2 bàn chân, đẩy cong thắt lưng và nâng khung chậu lên khỏi mặt giường, trong khi vùng lưng vẫn áp xuống mặt giường.

Bài 3: tập căng cơ bụng

Nằm ngửa, 2 chân hơi co, áp bàn chân xuống mặt giường, 2 tay xuôi theo chân, từ từ ngồi dậy. Ngày tập 2-3 lần với cường độ và tốc độ tăng dần.
Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013
Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống như thế nào?

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống như thế nào?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó phải kể đến các nguyên nhân hàng đầu là các chấn thương cột sống, sau đó là các tư thế xấu trong lao động.

Việc điều trị thoát vị đĩa đệm tùy theo tính chất tổn thương, vị trí, biến chứng cũng như mức độ ảnh hưởng tới khả năng vận động, lao động và sinh hoạt của người bệnh mà cân nhắc tới các biện pháp điều trị bảo tồn và điều trị can thiệp phẫu thuật.

Điều trị bảo tồn bao gồm các biện pháp như: nghỉ ngơi; vật lý trị liệu xoa bóp, tắm suối khoáng, đắp bùn; chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân, đắp dầu paraphin... Có thể dùng các biện pháp như tác động cột sống, kéo giãn cột sống trong điều trị bệnh.

Ở một vài tuần đầu tiên, khi tổn thương thoát vị đĩa đệm còn mới chưa bị xơ hóa, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cũng có tác dụng tương tự, chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Mặc áo nẹp cột sống có tác dụng cố định tạm thời, hạn chế các động tác lên vùng cột sống tổn thương, qua đó giảm lực tác động lên đĩa đệm.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol; giảm đau chống viêm không steroid như diclofenac, meloxicam... uống, tiêm hoặc bôi tại chỗ. Lưu ý, các thuốc trên dùng đường toàn thân có thể ảnh hưởng tới dạ dày, chức năng gan, thận... Các thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal được chỉ định trong trường hợp co cứng cơ cạnh cột sống. Có thể bổ sung các thuốc bổ thần kinh như vitamin B1, B6, B12; các thuốc giảm đau thần kinh như neurontin.

Nhìn chung không có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm loại steroid như prednisolon, dexamethason... đường toàn thân vì có nhiều tác dụng phụ. Đối với đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, có thể áp dụng biện pháp dùng thuốc tại chỗ là tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison với liệu trình mỗi đợt 3 mũi, mỗi mũi cách nhau 3-7 ngày cũng cho hiệu quả giảm đau khá tốt. Tuy nhiên việc tiêm ngoài màng cứng phải được thực hiện tại cơ sở chuyên khoa khớp có kinh nghiệm, trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn.

Gần đây người ta bắt đầu sử dụng tia laser, sóng radio qua da để điều trị đau do thoát vị đĩa đệm. Đây là các phương pháp an toàn, tuy nhiên chỉ có hiệu quả khi chỉ định trong những trường hợp nhẹ, nhân nhầy mới chỉ lồi vào ống sống và không có các tổn thương kèm theo như gai xương, xẹp trượt đốt sống, hay phối hợp dày dây chằng vàng.

Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định trong các trường hợp sau: thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa (biểu hiện bí đại tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục); có liệt chi; đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng; sau khoảng 6 tháng áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả.







Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013
Hậu quả của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Hậu quả của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Thoát vị đĩa đệm là một bệnh rất nguy hiểm không thể xem nhẹ, đây là nguyên nhân gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng, đau chân  tay… Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng, rối loạn khác nhau, vì vậy khi phát hiện bệnh phải xử lý kịp thời tránh nguy hiểm cho người bệnh.

  • Nguyên nhân và ảnh hưởng của bệnh thoát vị đĩa đệm

Hậu quả do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng thì gọi là thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, bệnh để lại những hậu quả sau:
1. Đau rễ thần kinh.
Đau ở rể thần kinh phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh. Có thể do chèn ép cơ học (thoát vị đĩa đệm, chèn ép do xương); do viêm rễ, viêm ngoài màng cứng, viêm màng nhện của tủy sống; do u rễ. Đau rễ thần kinh thường đau theo dải, lan từ thắt lưng xuống chân, tương ứng với vùng phân bố của rễ thần kinh.
Đau rễ thần kinh xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm.
Đau rễ thần kinh có thể xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ. Người ta gọi đó là hội chứng đau khập khễnh cách hồi.
2. Rối loạn cảm giác
Thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.
3. Rối loạn vận động :
Biểu hiện là bệnh nhân bị bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối.
4. Rối loạn cơ thắt:
Trong tổn thương các rễ vùng xương cùng (rễ S3, S4, S5) có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.
5. Có 3 hội chứng đuôi ngựa tùy theo tầng thoát vị đĩa đệm, có các hội chứng khác nhau:
Hội chứng đuôi ngựa trên: Triệu chứng là liệt ngoại vi toàn bộ ở hai chân, rối loạn cảm giác hai chân từ nếp bẹn trở xuống, rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi. Thể này ít gặp vì thoát vị đĩa đệm ở đoạn cao (L1 – L2 và L2 – L3) ít có điều kiện xảy ra.
Hội chứng đuôi ngựa dưới: Do thoát vị đĩa đệm L5 – S1, có rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân (rễ L5, S1, S2).
Hội chứng đuôi ngựa giữa: Thường gặp do thoát vị đĩa đệm L3 – L4 và L4 – L5. Liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.
Chẩn đoán xác định viêm đa rễ thần kinh dựa trên cơ sở lâm sàng và các kỹ thuật cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…

Chữa trị bằng các biện pháp kết hợp

Chế độ vận động: Trong thời kỳ cấp tính, nằm nghỉ tại giường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Tư thế nằm ngửa trên ván cứng, có đệm ở vùng khoeo làm co nhẹ khớp gối và khớp háng.
Điều trị vật lý và các liệu pháp phản xạ : Bao gồm phương pháp nhiệt như chườm nóng (túi nước, muối rang, cám rang, lá lốt, lá ngải cứu nóng); dùng các dòng điện tại khoa vật lý trị liệu, điều trị bằng laser; châm cứu.
Dùng thuốc: Chủ yếu là dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, an thần, trấn tĩnh thần kinh và vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12). Các thuốc này đều có những chống chỉ định nên phải do thầy thuốc chuyên khoa sử dụng.
Các biện pháp điều trị đặc hiệu khác đều phải điều trị nội trú tại các trung tâm chuyên khoa thần kinh và phẫu thuật thần kinh.
Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013
Thoát vị đĩa đệm và những hậu quả khó lường

Thoát vị đĩa đệm và những hậu quả khó lường

Thoát vị đĩa đệm nhiều tầng - một bệnh lý lâm sàng rất phức tạp, đa dạng, nhất là trường hợp khối lượng thoát vị quá to gây chèn ép tủy sống và đuôi ngựa. Đây là chùm hội tụ nhiều rễ thần kinh thắt lưng - cùng gây đau đớn cho người bệnh tới cực điểm, đòi hỏi phải xử trí cấp cứu kịp thời.
Hậu quả do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Đau rễ thần kinh
Đau rễ phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh. Có thể do chèn ép cơ học (thoát vị đĩa đệm, chèn ép do xương); do viêm rễ, viêm ngoài màng cứng, viêm màng nhện của tủy sống; do u rễ. Đau rễ thần kinh thường đau theo dải, lan từ thắt lưng xuống chân, tương ứng với vùng phân bố của rễ thần kinh. Đau rễ xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm.
Đau rễ lại xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ. Người ta gọi đó là hội chứng đau khập khễnh cách hồi.
Trường hợp đau một rễ thần kinh thường gặp trong thoát vị đĩa đệm tầng L4 - L5 (đốt thắt lưng 4 - 5) và thoát vị đĩa đệm L5 - S1 (đốt thắt lưng 5 - xương cùng thứ nhất). Trường hợp thoát vị đĩa đệm hai tầng sẽ gây đau hai rễ thần kinh, thường gặp ở hai đĩa đệm cuối là L4 - L5 và L5 - S1 vì đây là đoạn bản lề của cột sống thắt lưng, nơi chịu sức ép mạnh của tải trọng phần trên cơ thể và sự chuyển động của cột sống về nhiều phía.
Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.
Rối loạn vận động: bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối.
Rối loạn cơ thắt: trong tổn thương các rễ vùng xương cùng (rễ S3, S4, S5) có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.
Ngoài các triệu chứng trên, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh có những nghiệm pháp khám khách quan như rối loạn phản xạ, rối loạn thần kinh thực vật…

Các giai đoạn tiến triển của thoát vị đĩa đệm.
Và hội chứng đuôi ngựa
Tủy sống tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng 2 (L2). Tiếp theo khoanh tủy cuối là nón cùng (hình tam giác giống như cái nón). Đuôi ngựa là hội tụ của các rễ thần kinh thắt lưng cùng, gồm các rễ L2, L3, L4, L5, S1, S2, S3, S4, S5 chi phối thần kinh vận động, cảm giác và dinh dưỡng cho các cơ quan trong chậu hông và hai chân.
Trường hợp đau nhiều rễ thần kinh do chèn ép của khối thoát vị đĩa đệm lớn, nhiều tầng tạo nên bảng lâm sàng như là một khối u, được gọi là hội chứng đuôi ngựa. Đau nhiều rễ cũng ít gặp nhưng rất quan trọng vì thường là khởi đầu của bệnh cảnh hội chứng đuôi ngựa do khối thoát vị đĩa đệm lớn (thể giả u) chèn ép đuôi ngựa. Đặc điểm lâm sàng là đau khốc liệt, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau lại kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác…
Có 3 hội chứng đuôi ngựa tùy theo tầng thoát vị đĩa đệm, có các hội chứng khác nhau:
Hội chứng đuôi ngựa trên: liệt ngoại vi toàn bộ ở hai chân, rối loạn cảm giác hai chân từ nếp bẹn trở xuống, rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi. Thể này ít gặp vì thoát vị đĩa đệm ở đoạn cao (L1 -  L2 và L2 - L3) ít có điều kiện xảy ra.
Hội chứng đuôi ngựa dưới: do thoát vị đĩa đệm L5 - S1, có rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân (rễ L5, S1, S2).
Hội chứng đuôi ngựa giữa: thường gặp do thoát vị đĩa đệm L3 - L4 và L4 - L5. Liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.
Chẩn đoán xác định viêm đa rễ thần kinh dựa trên cơ sở lâm sàng và các kỹ thuật cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…

Chữa trị bằng các biện pháp kết hợp
Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, nằm nghỉ tại giường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Tư thế nằm ngửa trên ván cứng, có đệm ở vùng khoeo làm co nhẹ khớp gối và khớp háng.
Điều trị vật lý và các liệu pháp phản xạ: bao gồm phương pháp nhiệt như chườm nóng (túi nước, muối rang, cám rang, lá lốt, lá ngải cứu nóng); dùng các dòng điện tại khoa vật lý trị liệu, điều trị bằng laser; châm cứu.
Dùng thuốc: chủ yếu là dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, an thần, trấn tĩnh thần kinh và vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12). Các thuốc này đều có những chống chỉ định nên phải do thầy thuốc chuyên khoa sử dụng.

Các biện pháp điều trị đặc hiệu khác đều phải điều trị nội trú tại các trung tâm chuyên khoa thần kinh và phẫu thuật thần kinh.
Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013
Dùng thuốc trong điều trị thoát vị đĩa đệm

Dùng thuốc trong điều trị thoát vị đĩa đệm



Nhờ tính chất đàn hồi nên đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm sóc, giúp cho cột sống thực hiện chức năng vận động của mình (cúi, ngửa, nghiêng...) một cách mềm dẻo. Khi vòng sợi bao quanh bị rách, nhân nhầy thoát ra ngoài khỏi vị trí giữa hai đốt sống, thường là về phía sau gây chèn ép tủy sống hoặc các rễ thần kinh. Hiện tượng trên gọi là thoát vị đĩa đệm. Theo nhiều nghiên cứu, thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân chủ yếu chiếm tới 80% các trường hợp đau cột sống thắt lưng.

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó phải kể đến các nguyên nhân hàng đầu là các chấn thương cột sống, sau đó là các tư thế xấu trong lao động. Các chấn thương vào vùng cột sống như ngã ngồi đập mông xuống đất, chấn thương tác động trực tiếp vào vùng cột sống hoặc các tư thế xấu như cúi, nghiêng hay xoay người nhấc vật nặng - đặc biệt nhấc vật nặng ở cách xa người dễ gây thoát vị đĩa đệm.

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng khác nhau. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cột sống thắt lưng hay gặp nhất (trên 90% các trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống) gây đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa một hay cả hai bên, đau thần kinh đùi bì. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây đau cổ, đau vai gáy, đau cánh tay: hội chứng cổ - vai - cánh tay. Trường hợp nặng chèn ép vào tủy sống sẽ gây yếu cánh tay hoặc liệt tứ chi.

Điều trị

Tùy theo tính chất tổn thương, vị trí, biến chứng cũng như mức độ ảnh hưởng tới khả năng vận động, lao động và sinh hoạt của người bệnh mà cân nhắc tới các biện pháp điều trị bảo tồn và điều trị can thiệp phẫu thuật.

 Điều trị bảo tồn bao gồm các biện pháp như: nghỉ ngơi; vật lý trị liệu xoa bóp, tắm suối khoáng, đắp bùn; chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân, đắp dầu paraphin... Có thể dùng các biện pháp như tác động cột sống, kéo giãn cột sống trong điều trị bệnh. Một vài tuần đầu tiên, khi tổn thương thoát vị đĩa đệm còn mới chưa bị xơ hóa, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cũng có tác dụng tương tự, chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Mặc áo nẹp cột sống có tác dụng cố định tạm thời, hạn chế các động tác lên vùng cột sống tổn thương, qua đó giảm lực tác động lên đĩa đệm.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol; giảm đau chống viêm không steroid như diclofenac, meloxicam... uống, tiêm hoặc bôi tại chỗ. Lưu ý các thuốc trên dùng đường toàn thân có thể ảnh hưởng tới dạ dày, chức năng gan, thận... Các thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal được chỉ định trong trường hợp co cứng cơ cạnh cột sống. Có thể bổ sung các thuốc bổ thần kinh như vitamin B1, B6, B12; các thuốc giảm đau thần kinh như neurontin. Nhìn chung không có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm loại steroid như prednisolon, dexamethason... đường toàn thân vì có nhiều tác dụng phụ. Một số trường hợp hãn hữu như đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp trên, đặc biệt kèm phù tủy có thể methylprednisolon đường tĩnh mạch liều cao, ngắn ngày, giảm liều nhanh nhưng phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và phải được theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Đối với đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, có thể áp dụng biện pháp dùng thuốc tại chỗ là tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison với liệu trình mỗi đợt 3 mũi, mỗi mũi cách nhau 3-7 ngày cũng cho hiệu quả giảm đau khá tốt. Tuy nhiên, việc tiêm ngoài màng cứng phải được thực hiện tại cơ sở chuyên khoa khớp có kinh nghiệm, trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn.

Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng tia laser, sóng radio qua da để điều trị đau do thoát vị đĩa đệm. Đây là các phương pháp an toàn, tuy nhiên chỉ có hiệu quả khi chỉ định trong những trường hợp nhẹ, nhân nhầy mới chỉ lồi vào ống sống và không có các tổn thương kèm theo như gai xương, xẹp trượt đốt sống, hay phối hợp dày dây chằng vàng.

Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định trong các trường hợp sau: thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa (biểu hiện bí đại, tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục); có liệt chi; đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng; sau khoảng 6 tháng áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả. Phẫu thuật nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép. Bao gồm các biện pháp: Kinh điển là mổ cắt cung sau lấy bỏ khối thoát vị - nhìn chung là can thiệp rộng, nhiều biến chứng về sau, đặc biệt là tái phát đau do vết mổ cũ xơ dính. Về sau, các kỹ thuật được cải tiến hơn như phẫu thuật mở nhỏ (mini- open); cắt bỏ đĩa đệm qua da; mổ nội soi lấy nhân thoát vị; mổ nội soi hút nhân nhầy... Trường hợp tổn thương có trượt đốt sống phối hợp gây mất vững có thể cố định cột sống bằng khung kim loại. Phẫu thuật thay đĩa đệm mới nhìn chung ít được chỉ định.

Phòng thoát vị đĩa đệm

Cần rèn luyện để đạt được cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong lao động, học tập cũng như sinh hoạt hàng ngày; tránh cúi người khiêng vác vật nặng; tránh mọi chấn thương cho cột sống. 
Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013
Nguyên nhân bị thoát vị đĩa đệm

Nguyên nhân bị thoát vị đĩa đệm

BS Nguyễn Hữu Công cho biết, tùy vào vùng bị thoát vị đĩa đệm mà người ta đặt tên: thoát vị cột sống cổ, thoát vị cột sống lưng, thoát vị cột sống thắt lưng.

Nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm rất đa dạng: do chấn thương, bệnh lý, đặc biệt là do thoái hóa xương theo tuổi tác. Người lao động nặng hoặc chơi các môn thể thao sai tư thế cũng dễ dẫn đến tình trạng thoái hóa đĩa đệm cấp tính...
TS. BS. Ngô Minh Lý - Trưởng khoa Cột sống A (BV Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM) cũng cảnh báo, giới văn phòng đang là đối tượng nguy cơ của bệnh này. Nếu cứ ngồi làm việc liên tục, không nghỉ ngơi, theo thời gian, các đĩa cột sống bị quá tải. Tuy nhiên, 90% các trường hợp bị thoat vi dia dem không cần can thiệp phẫu thuật.

Ngồi xe máy nhiều dễ thoát vị đĩa đệm

Giữa hai đốt xương sống có một phần đệm bằng chất sụn, xung quanh có vòng xơ. Nếu đĩa đệm bị phồng ra phía sau và vòng xơ vẫn còn nguyên, chuyên môn gọi là lồi đĩa đệm. Nếu vòng xơ bị rách, đĩa đệm trượt ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm. Vị trí hay bị thoát vị đĩa đệm nhất là ở cột sống cổ, và cột sống thắt lưng do cột sống cử động nhiều. Cột sống cổ cũng ít bị thoát vị hơn so với cột sống thắt lưng vì thắt lưng chịu đựng sức nặng cơ thể nhiều hơn. Bệnh lý thoát vị liên quan chặt chẽ đến bệnh lý thoái hóa cột sống. Một trong những nguyên nhân gây thoái hóa nhanh chính là ngồi xe máy nhiều, đặc biệt phải đi nhiều trên mặt đường rung, xóc nhiều.
BS Công cho biết thêm: “Đối tượng dễ bị thoái hóa cột sống cổ là nhân viên văn phòng. Có những phụ nữ làm công việc thư ký, chỉ khoảng 25 - 26 tuổi, đã mắc bệnh do phải tập trung tư tưởng, căng cơ cổ, đánh máy nhiều. Đầu và cổ ở tư thế bất động kéo dài, các cơ sau gáy phải liên tục kéo căng; trong tình trạng ấy, nếu máy lạnh hoặc quạt xối thẳng vào người thì còn tệ hại hơn nữa…


Bệnh thoát vị đĩa đệm
Biểu hiện của thoái hóa cột sống cổ là mỏi sau ót, mỏi xuống vai, đau lên đầu. Nếu bị lồi hoặc thoát vị đĩa đệm, gây chèn rễ thần kinh, người bệnh sẽ bị đau lan từ bả vai xuống cánh tay và tới tận ngón tay cái và tay trỏ. Triệu chứng tăng lên khi ngồi xe máy nhiều. Điều cần thiết lúc này là phải đi khám chuyên khoa, hoặc chấn thương chỉnh hoặc thần kinh, để làm các xét nghiệm cần thiết. Vì thoát vị đĩa đệm ở cột sống cổ có thể trầm trọng, chèn ép vào tủy sống cổ và gây liệt tứ chi.”
Trong khi đó, những người lao động nặng ở tư thế cúi gập lưng hoặc bê vác nặng; hay tập các môn thể thao nặng như tennis là đối tượng dễ bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Các cử động ở thắt lưng đột ngột và mạnh là nguyên nhân gây bệnh. Khi đó, thoát vị đĩa đệm có thể gây ra đau lưng, chèn ép rễ thần kinh khiến cơn đau lan từ hông xuống mông và đến chân. Thông thường, cơn đau này chỉ diễn ra một bên, nếu xảy ra cả hai bên, tình trạng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng đã trở nên nghiêm trọng.

Không bẻ vặn người đột ngột

Những người làm văn phòng, nên cố gắng ngồi xa máy lạnh. Khi ngồi trên máy tính khoảng 45 phút, cần phải ra ngoài vận động nhẹ nhàng 10 - 15 phút. Nếu bị nhức mỏi sau gáy nhiều, người bệnh có thể tự massage nhẹ nhàng, hoặc cử động cổ một cách từ từ, nhẹ nhàng. Khi thấy đau thì dừng lại ngay. Không nên nhờ người khác bấm, bẻ vặn, xoay, lắc cổ nhiều và nhanh, đột ngột.
BS. Công cho biết, nhiều trường hợp đã bị liệt tứ chi hoàn toàn vì phương pháp “bẻ vặn”. Cách tốt nhất là đi tập vật lý trị liệu để kéo giãn cột sống cổ và cột sống thắt lưng. Đối với những phụ nữ trung niên, khi đã bị thoái hóa cột sống cổ, với những cơn đau lan xuống tay như vậy, không nên chạy, nhảy hoặc aerobic; khi điều khiển xe máy, nên đi chậm, ngồi thẳng lưng, hạn chế đi lại trên các đoạn đường lồi lõm, rung xóc. Những phụ nữ này có thể bổ sung thêm glucosamin kết hợp chondroitin hằng ngày.
Người đau lưng nặng khi ho và hắt hơi sẽ bị đau nhói. Lúc ấy, người bệnh phải nằm một chỗ, trên nệm tương đối cứng và nghỉ ngơi hoàn toàn. Có người quan niệm sai lầm rằng, đi bộ sẽ tốt cho cột sống; nhưng đối với những bệnh nhân bị thoái hóa cột sống thắt lưng và đau thần kinh tọa, càng đi nhiều càng nguy hiểm. Tuy nhiên bệnh nhân có thể đi bơi.
Trong giai đoạn đau cấp, bệnh nhân có thể sử dụng thuốc kháng viêm, thuốc giãn cơ, kết hợp với vật lý trị liệu theo chỉ định của BS chuyên khoa. BS Lý cho biết, đa số các trường hợp đau thần kinh tọa (thoát vị đĩa đệm gây chèn rễ thần kinh) có thể khỏi khi điều trị nội khoa, dù còn hơi ê ẩm và có thể tái phát; chỉ một số ít trường hợp phải phẫu thuật. Đó là những bệnh nhân bị thoát vị kèm biến chứng thần kinh: yếu, liệt chân, ảnh hưởng đến cơ vòng bàng quang dẫn đến rối loạn tiêu tiểu.
Ngoài ra, một bệnh liên quan đến thần kinh mà phụ nữ lớn tuổi thường gặp là hội chứng hẹp ống xương sống thắt lưng, hoặc hội chứng khập khiễng cách hồi. Triệu chứng chung là yếu và tê hai chân khi bước đi, cứ một quãng phải ngồi nghỉ. Yếu chân có thể do mạch máu hoặc thần kinh. Nếu khi bệnh nhân đứng lâu để nấu ăn cũng có cảm giác yếu liệt, có thể do ống xương sống bị hẹp vì thoái hóa cột sống thắt lưng hay thoát vị đĩa đệm. Khi bị hội chứng này, bệnh nhân cần được can thiệp bằng phẫu thuật.

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013
Bệnh thoái hóa đĩa đệm – triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh thoái hóa đĩa đệm – triệu chứng và phương pháp điều trị

Thoái hóa đĩa đệm là một hiện tượng của cơ thể trong đó các đĩa đệm dần dần bị hao mòn, giảm chất lượng do quá trình lão hóa theo thời gian. Thoái hóa đĩa đệm là hiện tượng rất bình thường, xảy ra ở tất cả những người lớn tuổi và không gây ra triệu chứng gì. Thế nhưng, những người bị “mắc bệnh thoái hóa đĩa đệm” sẽ gặp phải những cơn đau vô cùng khó chịu, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống hàng ngày.

Bệnh nhân thoái hóa đĩa đệm thường có gặp rất nhiều khó khăn khi ngồi do vùng thắt lưng phải chịu rất nhiều áp lực của trọng lượng cơ thể. Đứng hoặc ngồi quá lâu trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến lưng, gây ra các cơn đau đớn, vì thế người bệnh cần phải thường xuyên thay đổi tư thế, di chuyển, đi lại. Nằm nghỉ là cách tốt nhất để giảm đau tạm thời bởi vì khi cơ thể ở tư thế nằm, tác động của trọng lực cơ thể lên các đĩa đệm gần như không còn.
Triệu chứng ban đầu của căn bệnh thoái hóa đĩa đệm chỉ là đau nhẹ ở vùng thắt lưng. Thế nhưng khi căn bệnh phát triển nặng dần sẽ gây ra các cơn đau mạn tính gay gắt. Nguyên nhân chính xác của những cơn đau lưng này vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng các bác sĩ cho rằng đó là do áp lực không bình thường đè nén lên đĩa đệm gây ra viêm. Khi đó, cột sống sẽ làm cho các cơ bắp ở vùng ảnh hưởng bị sưng tấy để ngăn chặn các di chuyển rất nhỏ của đĩa đệm và bệnh nhân cảm thấy đau đớn.
Khi bệnh ở giai đoạn khá nặng, các cơn đau quằn quại sẽ kéo dài vài tiếng hoặc thậm chí vài ngày nhưng rồi sau đó lại chỉ bị đau nhẹ nhàng, âm ỉ. Mức độ gay gắt của các cơn đau ở mỗi người là không giống nhau, từ đau râm ran, dai dẳng cho đến những cơn đau khiến lưng không thể di chuyển. Trong một số trường hợp, thoái hóa đĩa đệm còn gây ra đau lây lan từ lưng sang các vùng khác như hông, mông, đùi, cẳng chân và khiến cho các bộ phận này suy yếu.
Để điều trị căn bệnh thoái hóa đĩa đệm chúng ta có rất nhiều phương pháp nhưng để đạt hiệu quả cao nhất chúng ta nên sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau. Sự phối hợp giữa phương pháp nắn khớp xương và phương pháp trị liệu xương khớp đem lại kết quả rất tốt cho người bệnh. Ngoài ra, trong giai đoạn điều trị, các bác sĩ còn cho bệnh nhân sử dụng các loại thuốc giảm đau, chống viêm hoặc thậm chí cả tiêm cột sống để giảm đau nhanh chóng đối với những trường hợp đau quá gay gắt. Phẫu thuật có thể là một lựa chọn nhưng chỉ nên là giải pháp cuối cùng khi tất cả các phương pháp khác không có hiệu quả bởi nó chứa rất nhiều rủi ro cũng như chi phí tốn kém.
Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013
Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y

Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y

Thoát vị đĩa đệm là căn bệnh khá phổ biến hiện nay, tuy nhiên lại chưa được mọi người quan tâm đúng mức. Để giúp các bạn có thêm nhiều thông tin về cách chữa trị căn bệnh gây đau đớn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn nội dung điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y trong bài viết hôm nay.
Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm:
Nguyên nhân:
Theo quan niệm y học cổ truyền trong ngũ thể (khí, huyết, gân, cơ, xương) thì đĩa đệm thuộc về gân, do can huyết sinh ra và nuôi dưỡng (Can sinh cân), một khi can huyết không đầy đủ thì đĩa đệm sẽ bị suy yếu, nhân đó khí trệ huyết ứ, ngoại tà xâm nhập, làm cho đĩa đệm mất sự đàn hồi, dễ biến dạng, thoát vị.
Một số nguyên do cụ thể như:
. Do chấn thương.
. Do cảm phong, hàn, thấp, nhiệt.
. Do tuổi già.
. Do lao động quá sức.
. Do sinh hoạt tình dục không điều độ.
. Ảnh hưởng của bệnh mạn tính.
Ngoại tà như phong, hàn, thấp, nhiệt bên ngoài xâm nhập vào làm cho kinh mạch ở vùng bị ngăn trở gây nên đau. Cũng có thể do tuổi già, suy yếu, lao động quá sức, sinh hoạt tình dục quá mức khiến cho các lạc mạch ở vùng lưng không được nuôi dưỡng, các đĩa đệm dần dần bị khô, cứng sẽ gây nên đau. Vùng lưng liên hệ đến Thận, nếu Thận suy yếu sẽ gây nên đau.

Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y
Khí và huyết nếu không vận hành được sẽ khiến cho huyết bị ngưng trệ cũng gây nên đau. Chấn thương do tẽ ngã… làm cho huyết bị ứ lại, ảnh hưởng đến các kinh mạch, lạc mạch ở vùng lưng cũng gây nên đau.
Triệu chứng:
- Thể hàn thấp: Đau ở vùng lưng, có cảm giác nặng ở lưng dưới, hoặc có cảm giác như ngồi vào chậu nước đá lạnh hoặc như có vật gì nặng đè vào lưng, tay chân lạnh, tay chân không có sức, ấn vào đau hơn, gặp lạnh hoặc thời tiết âm u thì đau tăng, chườm ấm nóng thì giảm đau, tiểu nhiều, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhờn, mạch Trầm, Tế.
- Thể phong thấp: lưng đau trên dưới không nhất định nhưng thay đổi. Vùng lưng đau thường kèm nặng và chuyển xuống dưới các ngón chân, kèm mất cảm giác, thay đổi theo thời tiết, sợ gió, sợ lạnh, cơ thể nặng nề, lưỡi trắng nhạt, rêu lưỡi vàng, mạch Phù, Tế, Huyền.
- Thể thấp nhiệt: Thắt lưng luôn đau kèm cảm giác nóng, thắt lưng sưng, nặng, không thể cuí về phía trước hoặc ngả ra sau được, bứt rứt, ra mồ hôi, khát, tiểu ít, nước tiểu vàng đậm, tiểu buốt, táo bón, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch Sác, Hoạt hoặc Nhu Hoạt.
- Thể thận hư: Vùng thắt lưng đau ê ẩm, bước đi làm như không có sức, đứng lâu chân như muốn khuỵ xuống, khi mệt mỏi thì khó chịu hơn, nằm hoặc nghỉ ngơi, xoa bóp thì dễ chịu hơn, ngũ tâm phiền nhiệt, sốt về chiều, mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ, mạch Tế Sác.
- Thể thận dương hư: Lưng đau ê ẩm, nghỉ ngơi hoặc nằm, xoa bóp, chườm ấm thì đỡ hơn, lưng tê, mất cảm giác, đi hoặc đứng chân như không còn sức, chân tay lạnh, sợ lạnh, lưng lạnh, hơi thở ngắn, da mặt xanh xám, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế, không lực.
- Thể khí trệ huyết ứ: Đau chói vùng lưng và chân, đau cố định một chỗ, ngày nhẹ, đêm nặng. Ấn vào cột sống nhiều khi đau không chịu nổi. Có khi đau lan xuống chân, làm cho chân mất cảm giác, di chuyển khó, táo bón, lưỡi đỏ tím hoặc có vết ban đỏ, mạch Trầm, Sáp, Huyền.
Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y:
Bài 1: Xuyên ô 9g, Phụ tử 9g, Quế chi 9g, Độc hoạt 9g, Cát căn 9g, Can khương 9g, Ma hoàng 6g, cam thảo 6g, Tế tân 3g.
Bài 2: Tang kí sinh 18g, Thạch chi 15g, Đương qui 12g, Đẳng sâm 12g, Phục linh 12g, Tần giao 12g, Đỗ trọng 12g, Phòng phong 9g, Độc hoạt 9g, Xuyên khung 9g, Bạch thược 9g, Ngưu tất 9g, Tế tân 3g, Nhục quế 3g, Cam thảo3g
Bài 3 điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y: Ý dĩ 30g, Xương truật 12g, Ngưu tất 12g, Tần giao 9g, Hoàng bá 9g
Bài 4: Thục địa 12g, Đỗ trọng 12g, Hoài sơn 9g, Sơn thù 9g, Kỉ tử 9g, Ngưu tất 9g, Thỏ ti tử 9g, Tang kí sinh 9g, Cao ban long 6g, Cao qui bản 6g.
Bài 5: Thục địa 12g, Đỗ trọng 9g, Thỏ ti tử 9g, Tục đoạn 9g, Cao ban long 9g, Hoài sơn 9g, Kỉ tử 9g,Cẩu tích 9g, Sơn thù 9g, Đương qui 8g, Phụ tử 3g.
Bài 6: Tục đoạn 12g, Cốt toái bổ 9g, Xuyên khung 9g, Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g, Khương hoạt 9g, Nhũ hương 9g,Đương qui 9g, Ngưu tất 9g, Địa long 9g, Tần giao 9g, xương bồ 6g, Cam thảo 3g.
Điều trị thoát vị đĩa đệm bằng đông y với 6 bài thuốc trên đây chắc chắn các bạn sẽ giảm bớt được các cơn đâu do căn bệnh này gây ra.

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013
Thoát vị đĩa đệm có chữa được không

Thoát vị đĩa đệm có chữa được không

Thoát vị đĩa đệm có chữa được không? đây có lẽ là câu hỏi của hầu hết bệnh nhân khi không may mắc phải căn bệnh này. Cho đến nay vẫn chưa có cơ sở nào chứng minh bệnh thoát vị đĩa đệm được chữa khỏi hoàn toàn, mà chỉ có thể hạn chế một cách tối đa các cảm giác đau đớn cho người bệnh. Trong bài viết hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn một số cách để phòng và chữa căn bệnh này hiệu quả.
Cách phòng bệnh thoái vị đĩa đệm:
1. Sống lành mạnh
- Tập thể dục đều đặn, và nên khởi động tốt trước khi bắt tay vào việc.
- Tập củng cố cho cơ thân, cơ bụng, cơ cổ lưng (có bài tập của các huấn luyện viên, chuyên gia vật lý)
- Duy trì chỉ số khối cơ thể trong giới hạn bình thường (không quá béo và không quá gầy)
2. Rèn luyện tư thế đúng:
- Tư thế thẳng, đầu thẳng, nhìn thẳng, vai hướng ra sau.
- Khi vác vật nặng, không để vặn cột sống mà nên gập gối, thẳng lưng, bê vật gần người nhất.
- Khi lao động xúc đất cát, nên để lưng thẳng bằng cách, bước một chân lên trước và chùng gối xuống, lấy gối làm điểm tì để làm việc tránh gây xoắn vặn cột sống.
3. Trong công việc
Nếu phải đứng lâu, nên dùng ghế tựa thấp để chân, thay đổi chân từng bên cứ 5-10 phút đặt lên ghế/ lần.
Nếu phải ngồi lâu hàng giờ trong công sở hoặc lái xe lâu, nên có thời gian nghỉ để tránh căng cứng các cơ

Thoát vị đĩa đệm có chữa được không
Dùng ghế văn phòng thẳng để giúp cột sống luôn thẳng.
Khi ngồi làm việc có thể để gác chân cao hơn 1 chút so với háng.
Dùng ghế xoay để hạn chế xoắn vặn cột sống
4. Nên để ý thường xuyên tới cột sống:
Khi có túi sách nên đeo trên vai hơn là cầm tay, tốt nhất là đeo trên hai vai cân đối.
Khi xử lý vât nặng, động tác đẩy vật nặng được ưu tiên, tránh kéo vật nặng dễ gây sang chấn.
Tránh đi giày, guốc cao quá (phần gót cao trên 5cm). Nên dùng giày dép vật liệu mềm.
Điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm:
Thoát vị đĩa đệm có chữa được không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: thời gian mắc bệnh, tuổi tác, cách điều trị… Nếu tuổi cao cộng với thời gian mắc bệnh lâu sẽ khó chữa khỏi hơn những người trẻ tuổi và sớm phát hiện bệnh. Thoát vị đĩa đệm là một bệnh rất khó chữa, chữa khỏi hoàn toàn là điều mà chúng tôi càng không dám khẳng định. Sau đây chúng tôi xin được giới thiệu một vài phương pháp điều trị các bạn có thể tham khảo.
- Sử dụng thuốc chống viêm không steroid là một dạng của phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệmkhá an toàn. Loại thuốc này có thể sử dụng bằng cách uống để giảm đau.
- Vật lý trị liệu. Phương pháp này không ảnh hưởng trực tiếp lên đĩa đệm nhưng nó chắc chắn sẽ làm cho cơ bắp ở cột sống vững chắc và khỏe hơn. Điều này sẽ làm giảm áp lực tác động lên các đĩa đệm một cách đáng kể.
- Đối với các trường hợp liên quan đến thần kinh như tê bì, suy yếu thì bệnh nhân thoát vị đĩa đệm có thể sẽ phải cần đến phẫu thuật. Trên thực tế, phẫu thuật chỉ được coi là sự lựa chọn cuối cùng khi mà tất cả các phương pháp khác không có hiệu quả. Nhưng phẫu thuật hay không còn phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh và sức khỏe của bệnh nhân. Không phải người bệnh nào cũng có thể sử dụng phương pháp này
Các phương pháp này chỉ được thiết kế để giải tỏa các cơn đau buốt, giảm tê bì, suy yếu ở thắt lưng và cẳng chân do các rễ dây thần kinh bị đè nén, đề phòng các chấn thương lại xảy ra, giảm mức độ khó chuyển động, tăng cường khả năng phục hồi. Còn thoát vị đĩa đệm có chữa được không phụ thuộc rất nhiều vào chính bản thân mỗi chúng ta, đó là sống lành mạnh, ăn uống và làm việc khoa học.
Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013
Các dấu hiệu mắc bệnh thoát vị đĩa đệm

Các dấu hiệu mắc bệnh thoát vị đĩa đệm

Các dấu hiệu mắc bệnh thoát vị đĩa đệm hầu như rất mơ hồ, đôi khi chúng ta nghĩ chỉ là những cơn đau lưng, đau mông đột đơn giản nhưng thực tế những triệu chứng đây báo hiệu giai đoạn đầu của thoát vị đĩa đệm. Sau đây là một số dấu hiệu thường gặp bạn nên lưu ý.

Sau khi bị trượt ngã đập mông xuống đất, sau một khuân vác nặng, sau một cúi gập lưng đột ngột, người bệnh thường triệu chứng sau:

1. Triệu chứng đau

Đau là dấu hiệu lúc nào cũng có và xuất hiện đầu tiên nhất, đau có thể từ cột sống cổ xuống hai tay hoặc đau từ cột sống thắt lưng xuống hai chi dưới, đau giống như kéo căng một sợi dây, đau liên tục khi đứng khi đi có thể giảm khi nằm nghỉ nhưng không bớt hẳn, đau không giảm khi uống thuốc.

2. Triệu chứng tê bì

Tê tùy vị trí rễ thần kinh bị chèn ép, như tê mặt ngoài bàn chân và gót chân, mặt ngoài bắp chân hoặc mu bàn chân, mặt trước xương chày, mặt trước đùi.
Cảm giác tê bì có thể có hoặc không thường xuất hiện sau đau.

3. Triệu chứng teo cơ, yếu liệt

Đây là triệu chứng thường xuất hiện muộn nhất sau một thời gian khá dài bạn có thể nhận thấy một tay, một chân hay hai tay hai chân teo nhỏ làm đi lại khó khăn, lâu hơn nữa có thể bạn sẽ không đi lại được.
Nếu tất cả những triệu chứng trên rõ ràng thì có thể không cần kiểm tra thêm trong thời gian ban đầu. Đôi khi có thể làm thêm một số cận lâm sàng như MRI hoặc CT được dùng để củng cố chẩn đoán.

4. Các triệu chứng của một đĩa đệm thoát vị:

Có thể có một đĩa đệm thoát vị mà không biết – hoặc đĩa đệm thoát vị phồng đôi khi hiển thị trên hình ảnh sống của những người không có triệu chứng của một vấn đề đĩa. Nhưng một số đĩa đệm thoát vị có thể đau đớn. Các dấu hiệu và triệu chứng thông thường nhất của một đĩa đệm thoát vị là:
  • Đau thần kinh tọa, Đôi khi có cảm giác kiến bò và tê, bắt đầu vào mông kéo dài xuống phía sau hoặc bên cạnh một chân.
  • Đau, tê hay yếu ở lưng dưới và một chân, hoặc ở cổ, ngực, vai hoặc cánh tay.
  • Đau lưng hay đau chân nặng hơn khi ngồi, ho hoặc hắt hơi