Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013
Điều trị tiểu đường týp 2

Điều trị tiểu đường týp 2

Trong những năm gần đây bệnh tiểu đường gia tăng ở mức báo động, đặc biệt là bệnh tiểu đườngtype 2. Theo thống kê cứ 10 người dân thì có tới 9 người mắc phải tiểu đường type 2. Không giống như tiểu đường type 1, tiểu đường type 2 hoàn toàn có thể quản lý được nếu như người bệnh biết cách kiểm soát tốt đường huyết của mình. Dưới đây là cách điều trị bệnh tiểu đường type 2 nhằm giúp người bệnh ổn định đường huyết để phòng ngừa được biến chứng tiểu đường gây ra.
Bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính dẫn tới mắc các bệnh hiểm nghèo điển hình như bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não dễ gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân tiểu đường.

Cách điều trị bệnh tiểu đường type 2 không dùng thuốc

Điều trị bệnh tiểu đường type 2 bằng chế độ ăn uống

Bạn không cần phải thực hiện chế độ an kiêng khem quá mức, bạn nên ăn nhiều thức ăn:
•      Rau tươi
•      Lúa mì nguyên hạt…
Những thức ăn này nhiều dinh dưỡng mà lại ít chất béo và năng lượng. Bạn cũng nên hạn chế thức ăn ngọt và những thức ăn chế biến từ bột, gạo.
Thức ăn có chỉ số đường huyết thấp: có thể rất hữu dụng. Chỉ số đường huyết là chỉ số đánh giá tốc độ thức ăn làm tăng đường trong máu.Thức ăn có chỉ số đường huyết cao sẽ làm tăng nhanh đường huyết. Những thức ăn giàu chất xơ có chỉ số đường huyết thấp

Điều trị bệnh tiểu đường type 2 bằng chế độ vận động thể dục

Bất cứ ai cũng cần tập thể dục đều đặn và bệnh nhân Đái tháo đường cũng không ngoại lệ. Hỏi ý kiến Bác sỹ trước khi bắt đầu chọn môn thể thao để tập. Sau đó chọn môn thể thao mà bạn yêu thích, như là đi bộ, bơi lội… Quan trọng là tập đều đặn mỗi ngày, nên tập ít nhất 30 phút mỗi ngày. Nên bắt đầu tập nhẹ rồi tăng dần cường độ tập.
Nên nhớ rằng, hoạt động thể lực sẽ giúp hạ đường huyết. Kiểm tra đường huyết trước khi tập. Bạn cũng nên ăn nhẹ trước khi tập để tránh hạ đường huyết nếu bạn đang uống thuốc hạ đường huyết hay đang chích insulin.

Cách điều trị tiểu đường type 2 bằng thuốc tây



Một số bệnh nhân tiểu đường type 2 có thể kiểm soát đường huyết chỉ bằng chế độ ăn và tập thể dục, nhưng nhiều bệnh nhân khác cần uống thuốc hay tiêm insulin để ổn định đường huyết. Uống thuốc nào là do bác sỹ quyết định dựa trên rất nhiều yếu tố để lựa chọn. Có thể phải phối hợp nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát đường huyết:
•      Thuốc điều trị bệnh tiểu đường: Thông thường, bệnh nhân mới được chẩn đoán sẽ được kê toa metformin (Glucophage), một thuốc giúp làm gan giảm sản xuất đường. Bác sỹ cũng sẽ khuyên thay đổi lối sống như: giãm cân,hoạt động thể lực nhiều hơn…
Cùng với metformin, những thuốc hạ đường huyết khác có thể được sử dụng để điều trị tiểu đường type 2. Một số thuốc kích thích tuyến tụy tăng sản xuất và phóng thích insulin(nhóm thuốc sulfonyureas). Nhóm acarbose sẽ ức chế men phân giải carbohydrates và làm giảm đường huyết sau ăn.Thêm vào đó, bác sỹ có thể phải kê toa aspirin liều thấp và thuốc hạ huyết áp, giãm lipid máu để giúp phòng ngừa biến chứng tim mạch.
Insulin: Một số bệnh nhân tiểu đường type 2 cần điều trị bằng insulin. Vì insulin sẽ bị tiêu hóa khi uống nên insulin phải dùng bằng đường tiêm.
Các loại insulin: Insulin có nhiều loại dựa vào thời gian tác dụng của nó, bao gồm:
Insulin tác dụng nhanh,ví dụ: insulin lispro (Humalog), insulin aspart (NovoLog)
Insulin tác dụng trung bình như: Insulin N, Insulin Lent
Insulin tác dụng chậm như: insulin glargine (Lantus) and insulin detemir (Levemir).
Tùy theo mỗi bệnh nhân mà bác sỹ có thể kê toa insulin hỗn hợp để có thể kiểm soát đường huyết cả ngày.

Cách điều trị bệnh tiểu đường type 2 bằng thảo dược

Dưới đây là một số cây thảo dược rất quý để điều trị chữa bệnh tiểu đường type 2 rất hiệu quả
Bạch truật: các hoạt chất atractan A, B và C trong bạch truật có tác dụng hạ đường máu. Bài thuốc gồm bạch truật 12 g, hoàng kỳ 65 g, đảng sâm 25 g, hoài sơn 15 g, phục linh 12 g. Sắc uống ngày 1 thang. Mỗi đợt điều trị 2 tháng.
Cam thảo đất: hoạt chất amellin trong cam thảo đất có thể làm giảm đường máu và các triệu chứng của bệnh đái tháo đường type2, khiến cho quá trình giảm nồng độ đường máu và nước tiểu diễn ra dần dần. Nó còn làm tăng mức dự trữ kiềm bị hạ thấp ở người bệnh nhân và giảm hàm lượng các chất tạo ceton trong máu.
Câu kỷ: có tác dụng hạ đường máu và ức chế men aldose reductose – men gây tích lũy sorbitol trong tế bào sinh ra biến chứng nghiêm trọng của bệnh đái tháo đường như bệnh về võng mạc, thần kinh và thận. Bài thuốc: câu kỷ 12 g, thục địa 20 g, hoài sơn 20 g, thạch hộc 12 g, mẫu đơn bì 12 g, sơn thù 8 g, rễ qua lâu 8 g, sa sâm 8 g. Sắc uống ngày 1 thang.
Hành tây: có tác dụng dự phòng sự tăng đường máu. Trên lâm sàng, những bệnh nhân được uống dịch ép hành tây đã giảm đường máu đáng kể. Bệnh nhân cần uống dịch ép hành tây, mỗi buổi sáng một thìa canh, uống liền trong 1-2 tháng sẽ có hiệu quả.
Mướp đắng: khi còn xanh, mướp đắng chứa các hoạt chất charantin, glycosid steroid, có tác dụng hạ đường máu, làm chậm sự phát triển các bệnh về võng mạc và đục thủy tinh thể và làm tăng khả năng dung nạp glucose của người bệnh. Mướp đắng còn có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ gốc tự do – một trong những nguyên nhân gây đái tháo đường. Bài thuốc: dùng quả mướp đắng còn xanh, thái mỏng, phơi nắng cho khô, tán thành bột mịn. Mỗi ngày uống 12-20 g, chia làm 2-3 lần, sau bữa ăn, chiêu với nước. Sau khoảng 2 tháng, khi đường máu hạ xuống gần mức bình thường, giảm liều thuốc xuống một nửa và duy trì.
Nhân sâm: có khả năng hạ đường máu và hiệp đồng với thuốc hóa dược. Nếu dùng nhân sâm phối hợp với thuốc hóa dược thì có thể giảm bớt liều thuốc này, thời gian hạ đường máu được kéo dài hơn. Bài thuốc: nhân sâm 15 g, thiên môn 30 g, sơn thù 25 g, câu kỷ 15 g, sinh địa 15 g. Sắc riêng nhân sâm và cô thành 30 ml cao, sắc chung 4 dược liệu còn lại và cô thành 170 ml cao lỏng, trộn lẫn hai cao này. Mỗi lần uống 20 ml, ngày dùng 2-3 lần trước bữa ăn.
Sinh địa: chứa hoạt chất hạ đường máu là các glycosid iridoid A, B, C và D. Nó cũng có tác dụng làm chậm sự phát triển biến chứng đục thể thủy tinh ở mắt và giảm các triệu chứng bệnh thần kinh ngoại biên ở người bệnh.
Các bài thuốc liên quan:
- Sinh địa 800 g, hoàng liên 600 g. Giã sinh địa vắt lấy nước, tẩm vào hoàng liên, phơi khô rồi lại tẩm, làm như vậy cho đến hết nước sinh địa. Tán nhỏ hoàng liên, làm thành viên. Mỗi lần uống 10 g, ngày dùng 2-3 lần.
- Sinh địa, hoài sơn, phục linh, mỗi vị 15 g, sơn thù, trạch tả, ngưu tất, mỗi vị 10 g. Hạt mã đề, mẫu đơn bì, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013
Điều trị bệnh thoái hoá cột sống, đau thần kinh toạ

Điều trị bệnh thoái hoá cột sống, đau thần kinh toạ

Thoái hoá cột sống và đau thần kinh toạ là một bệnh lý thường gặp trong các bệnh thầnkinh, thể hiện bằng đau lưng vùng thắt lưng, lan dọc theo đường đi của dây thần kinh này.

Đau thần kinh toạ ở người trẻ thường do tổn thương đĩa đệm, ở người có tuổi có thể do các căn nguyên khác cuả cột sống thắt lưng cùng (thoái hoá, ung thư nguyên phát hay di căn cột sống…). Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng và các  xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân, điện cơ đồ…

Điêu trị đau thần kinh toạ, thoái hoá cột sống cho người có tuổi cần phải chú ý những điểm sau:

-Điều trị nhằm mụcđích giảm đau, hãn chế các cơn đau tái phát, và hận chế sự phát triển của thoái hoá.

-Điều trị cần kết hợp điều trị toàn thân, tại chỗ đau, và điều trị nguyên nhân gây bệnh.

-Trong cơn đau dữ dội đột ngột, phải tìm cách nằm yên, bất động chỗ đau. Không nên  xoa nắn, đấm bóp, kích thích nhiều vào chỗ đau, có thể dùng thêm các thuốc giảm đau và giãn cơ. 

-Về thuốc men, dùng nên thận trọng vì đa số bệnh nhân thường mắc phải những bệnh như cao huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, bệnh xuất huyết, tiêu hóa, béo phì…

-Các thuốc giảm đau thường là dòng họ của cocticoit, hay gây xuất huyết, dùng quá nhiều, quá liều dẫn đến loãng xương, đái đường, huyết áp cao…

-Dung thuốc phải chú ý đến liều lượng, không nên quá máy móc vì cơ thể người già thường khả năng đào thải thuốc kém hơn so với người trẻ. Liều nên cho từ từ tăng dần đến khi có đáp ứng với thuốc thì dừng, không nên cho thuốc dài ngày. Cũng có thể dùng thuốc Đông y nhưng cần chú ý vì thuốc đông y thường là thuốc bổ nên bệnh  nhân dễ tăng cân, nhất là bệnh nhân cân nặng đã cao.

-Chế độ ăn cũng rất quan trọng, nên ăn đủ chất như vậy mới giúp cho cơ thể khoẻ và mau hồi phục. Thịt nạc, trứng, tôm, cua, sữa chua rất tốt vì nhiều Canxi, magie, mà không làm tăng cholesterol…

-HẠn chế đường và tinh bột, hạn chế ăn mặn, tránh các chất kích thích, gia vị, nước uống trung bình 1 lit/ ngày

-Các loại hoa quả tươi nên khuyến khích , nên uống nhiều nươcd chanh, cam, táo, bưởi. Ăn nhiều các loại rau xanh như: rau cải, dền, muống, giá đỗ….

-Nên phối hợp với biện pháp dùng thuốc với diều trị vật lý trị liệu như dùng nhiệt, chườm lá ngải cứu, chườm muối nóng, đắp bùn, thuỷ liệu, bơi lội, xoa bóp bấm huyệt…
Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013
no image

Tiểu đường tuýp 2 là gì?



Tiểu đường tuýp 2 tấn công người bệnh ở mọi lứa tuổi và các triệu chứng ban đầu rất khó phát hiện. Trong thực tế, một trong 3 người bị tiểu đường tuýp 2 không nhận thức được rằng họ đã mắc bệnh. Tình trạng mãn tính này cản trở cơ thể sử dụng các chất đường bột trong thức ăn để tạo thành năng lượng dẫn đến tình trạng lượng đường trong máu tăng cao. Theo thời gian, lượng đường dư thừa này làm tăng nguy cơ bệnh tim, giảm tầm nhìn, tổn thương thần kinh và các cơ quan và các vấn đề nghiêm trọng khác.



Dấu hiệu cảnh báo
Khát nước

Những bệnh nhận Bệnh tiểu đường tuýp 2 thường không có triệu chứng. Khi các triệu chứng xuất hiện thì điều đầu tiên là người bệnh sẽ gia tăng các cơn khát. Triệu chứng này thường đi kèm với cảm giác khô miệng, tăng sự thèm ăn, đi tiểu thường xuyên chẳng hạn như mỗi giờ, giảm hoặc tăng cân bất thường.
Nhức đầu

Khi lượng đường trong máu bất thường, các triệu chứng sau đó có thể bao gồm đau đầu, mờ mắt và mệt mỏi.

Nhiễm trùng

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh tiểu đường tuýp 2 không được phát hiện cho đến khi xuất hiện các triệu chứng đáng ngại về sức khỏe như:
Các vết cắt hoặc lở lâu lành
Nhiễm trùng nấm men hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu
Ngứa da, đặc biệt ở vùng bẹn
Rối loạn chức năng tình dục

Rối loạn chức năng tình dục là triệu chứng phổ biến ở những người mắc bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường có thể gây ra các tổn thương ở mạch máu và dây thần kinh ở bộ phận sinh dục, dẫn đến mất cảm giác và khó đạt đỉnh. Các biến chứng khác có thể bao gồm khô âm đạo và bất lực ở nam giới. Người ta ước tính khoảng 35% – 70% nam giới mắc bệnh tiểu đường sẽ gặp ít nhất một vài mức độ của chứng bất lực trong suốt cuộc đời của họ. Khoảng 1 trong 3 phụ nữ mắc bệnh tiểu đường sẽ phải trãi qua một số hình thức rối loạn chức năng sinh dục.

Các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát

Một số thói quen sống và điều kiện y tế có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường như:
Thừa cân, đặc biệt là ở vùng bụng
Lối sống ít vận động
Hút thuốc
Ăn nhiều thịt đỏ, các loại thịt chế biến sẵn, sữa có hàm lượng chất béo cao và đồ ngọt
Lượng cholesterol và mỡ máu bất thường ví dụ HDL – vốn được coi là một loại cholesterol có lợi cho sức khỏe – thấp hơn 35mg/dL hoặc mức triglyceride cao hơn 250mg/dL.
Các yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát
Chủng tộc hay sắc tộc gốc Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa và người châu Á có nguy cơ mắc bệnh cao hơn mức trung bình.
Gia đình có tiền sử mắc bệnh tiểu đường như cha mẹ, hoặc chị em ruột mắc bệnh thì nguy cơ mắc bệnh cũng tăng lên.
Độ tuổi: từ 45 tuổi trở lên nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng gia tăng.
Càng có nhiều yếu tố nguy cơ, khả năng mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 càng tăng.
Các yếu tố nguy cơ đối với phụ nữ

Trong quá trình mang thai, nếu thai phụ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ hoặc sinh con nặng trên 4kg thì sẽ có nguy cơ cao phát triển bệnh tiểu đường tuýp 2. Người có tiểu sử mắc hội chứng buồng trứng đa nang có thể gây ra hiện tượng kháng insulin và dẫn đến bệnh tiểu đường.
Insulin hoạt động như thế nào

Ở những người khỏe mạnh, insulin đóng vai trò chuyển hóa thức ăn thành năng lượng một cách hiệu quả. Dạ dày phân hủy carbohydrate có trong thức ăn thành đường glucose, đường glucose sau đó đi vào mạch máu, kích thích tuyến tụy tiết ra insulin với lượng phù hợp. Insulin là một loại hormone cho phép glucose di chuyển từ mạch máu vào các tế bào khắp cơ thể – nơi mà ở đó glucose sẽ được sử dụng như một nguồn năng lượng. Lượng glucose dư thừa sẽ được tích trữ trong gan.
Tiểu đường tuýp 2: những rủi ro trong trao đổi chất

Đối với bệnh tiểu đường tuýp 2, các tế bào không thể hấp thụ glucose do đó mức glucose trong máu sẽ tăng cao bất thường. Khi cơ thể rơi vào tình trạng kháng insulin, insulin tạo ra dư thừa nhưng lại không được cơ bắp, gan và các tế bào mỡ sử dụng hoặc không đáp ứng với insulin. Với bệnh tiểu đường tuýp 2 không được kiểm soát trong thời gian dài, lượng insulin tiết ra từ tuyến tụy sẽ bị giảm sút.
Chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 2

Chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 2 có thể thông qua một xét nghiệm máu đơn giản đó là xét nghiệm A1C. Xét nghiệm này cung cấp giá trị mức glucose máu trung bình trong vòng 2 – 3 tháng trước đó. Khi giá trị A1C cao hơn hoặc bằng 6.5% cho phép xác định bệnh tiểu đường. Kết quả xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói trên 126 cũng được coi là mắc bệnh tiểu đường. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu bệnh nhân kiểm tra dung nạp glucose qua đường uống trong 2 giờ. Ở những người có các triệu chứng kinh điển của bệnh tiểu đường thường có mức glucose máu ngẫu nhiên lớn hơn 200.

Kiểm soát Bệnh tiểu đường

Chế độ ăn uống

Lượng đường trong máu có thể kiểm soát bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, điều này giúp làm giảm nguy cơ các biến chứng của bệnh tiểu đường. Những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 nên theo dõi lượng carbohydrate, tổng hàm lượng chất béo và protein tiêu thụ đồng thời giảm lượng calo dung nạp. Hãy yêu cầu các chuyên gia dinh dưỡng tư vấn cho bạn một kế hoạch ăn uống lành mạnh.

Tập thể dục

Thường xuyên tập thể dục như tăng cường vận động thể lực, đi bộ có thể cải thiện tình trạng kháng insulincủa cơ thể và làm giảm đường huyết ở những người mắc Bệnh tiểu đường tuýp 2. Ngoài ra, vận động còn làm giảm mỡ thừa, giảm huyết áp và phòng chống bệnh tim mạch. Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 nên bỏ ra 30 phút tập thể dục vừa sức mỗi ngày.

Giảm căng thẳng

Căng thẳng có thể gây tăng huyết áp đồng thời làm tăng nồng độ glucose trong máu như một phần của phản ứng “chống hoặc chạy” của cơ thể – đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi cá nhân có thể ứng phó với những tác nhân đe dọa từ môi trường bên ngoài. Người bệnh có thể thay đổi chế độ ăn uống cho phù hợp để chống lại căng thẳng. Bệnh tiểu đường gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt của người bệnh, để tránh căng thẳng hãy thực hiện các phương pháp thư giãn như hít thở sâu, thiền định. Nói chuyện với bạn bè, người thân trong gia đình hoặc các nhân viên tư vấn cũng là cách làm giảm căng thẳng. Nếu tình hình vẫn trở nên tồi tệ, bệnh nhân nên gặp bác sĩ để được tư vấn.

Thuốc uống
Khi các chế độ ăn và tập thể dục không thể kiểm soát được lượng đường máu, người bệnh có thể sử dụng thêm thuốc để hỗ trợ. Có rất nhiều loại thuốc chữa trị bệnh tiểu đường và chúng thường được sử dụng kết hợp. Một số loại thuốc tác dụng bằng cách kích thích tuyến tụy sản xuất insulin nhiều hơn hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng insulin của cơ thể hoặc ngăn chặn cơ thể tiêu hóa tinh bột.



Insulin



Người bệnh có thể được kê toa sử dụng insulin trong điều trị hoặc sử dụng kết hợp với thuốc uống. Insulin cũng được sử dụng đối với bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có các tế bào beta bị khiếm khuyết có nghĩa là các tế bào trong tuyến tụy không thể sản xuất insulin để đáp ứng với nồng độ đường trong máu cao. Trong trường hợp này, người bệnh phải tiêm hoặc bơm insulin hằng ngày.
Các loại thuốc tiêm không chứa insulin

Một số loại thuốc mới như Pramlintide (Symlin), exenatide (Byetta) và liraglutide (Victoza) là các loại thuốc tiêm không chứa insulin dành cho người tiểu đường tuýp 2. Trong khi insulin giúp đưa glucose từ máu vào tế bào, các loại thuốc này giúp cơ thể tăng tiết insulin nhằm kiểm soát lượng đường trong máu.
Kiểm tra đường glucose

Kiểm tra lượng đường trong máu giúp bạn kiểm soát đường huyết và có những hành động kịp thời trong kế hoạch điều trị. Thời điểm kiểm tra và số lần kiểm tra đường huyết sẽ phụ thuộc vào tình trạng kiểm soát bệnh tiểu đường, cách điều trị và người bệnh có các triệu chứng đường máu không ổn định hay không. Bệnh nhân nên gặp bác sĩ để được tư vấn về số lần đo đường huyết trong ngày. Các thử nghiệm thường được vào lúc thức dậy, trước và sau bữa ăn, trước và sau khi vận động tập thể dục, trước khi đi ngủ.

Thiết bị kiểm soát glucose liên tục có thể giúp ích cho những người bị Bệnh tiểu đường tuýp 1 hạ thấp đường huyết.

Các tổn thương lâu dài

Động mạch


Theo thời gian, bệnh tiểu đường tuýp 2 không được điều trị có thể gây tổn thương nhiều hệ thống của cơ thể. Ước tính có khoảng 2 trong số 3 người mắc bệnh tiểu đường qua đời vì bệnh tim. Bệnh tiểu đường cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ lên 2 – 4 lần, xuất hiện các mảng bám trong động mạch, giảm lưu lượng máu, tăng hiện tượng máu đóng cục. Tình trạng xơ cứng động mạch này hay còn gọi là xơ vữa động mạch làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Thận

Mắc bệnh tiểu đường càng lâu, nguy cơ phát triển bệnh thận mãn tính càng lớn. Bệnh tiểu đường là nguy cơ hàng đầu gây suy thận, chiếm 44% trường hợp phát hiện bệnh trong năm 2008 tại Mỹ. Các nguy cơ biến chứng có thể giảm bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ như huyết áp và cholesterol cao. Nên tầm soát hang năm bệnh thận và sử dụng các loại thuốc làm chậm sự tiến triển của bệnh thận có thể giúp giảm nguy cơ suy thận.

Mắt

Đường huyết cao có thể gây tổn hại các mạch máu nhỏ mang oxy và chất dinh dưỡng tới võng mạc vốn là một phần quan trọng của mắt. Hiện tượng này được gọi là bệnh võng mạc do bệnh tiểu đường mà nó có thể gây tình trạng mất thị lực vĩnh viễn. Đây là nguyên nhân hàng đầu đối với các trường hợp mù lòa ở những người trong độ tuổi từ 20 đến 74 tuổi.

Tổn thương thần kinh

Theo thời gian, nếu không kiểm soát bệnh tiểu đường và lượng đường trong máu duy trì ở mức cao sẽ dẫn đến các tổn thương thần kinh. Các triệu chứng có thể bao gồm ngứa ran, tê, đau, cảm giác kim châm ở ngón tay, bàn tay, ngón chân hoặc bàn chân. Những tổn thương này không thể hồi phục nhưng các liệu pháp điều trị có thể giúp bệnh nhân giảm đau và tê. Bệnh nhân cần kiểm soát bệnh tiểu đường để tránh các tổn thương nặng hơn.

Bàn chân

Các tổn thương thần kinh do bệnh đái tháo đường gây ra làm cho người bệnh mất cảm giác ở bàn chân và khó phát hiện ra các chấn thương. Đồng thời, xơ cứng động mạch do kém lưu thông máu ở bàn chân. Vết loét và hoại tử bàn chân có thể xảy ra từ những chấn thương nhỏ. Trường hợp nặng, nhiễm trung không kiểm soát được có thể phải phẫu thuật cắt chi.
Ngăn ngừa bệnh tiểu đường tuýp 2

Điều ngạc nhiên là bệnh tiểu đường tuýp 2 có thể ngăn ngừa bằng cách thay đổi điều kiện sống. Để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, hãy làm theo các hướng dẫn dưới đây:
Ăn một chế độ ăn lành mạnh
Tập thể dục 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần
Duy trì trọng lượng khỏe mạnh
Kiểm tra tiền tiểu đường
Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013
Đau lưng do thoái hoá cột sống

Đau lưng do thoái hoá cột sống

Đau lưng là biểu hiện của khá nhiều các chứng bệnh khác nhau trong cơ thể con người. Nhưng nguyên nhân rõ rệt nhất, phổ biến nhất gây đau lưng là thoái hoá cột sống.

Và nếu như con người ta, ai cũng được sinh ra, lớn lên, già nua đi thì thoái hoá cột sống cũng là đương nhiên theo tuổi tác và năm tháng. Quan trọng là phải biết sinh hoạt, luyện tập ra sao để hạn chế tối đa những hậu quả do bệnh để lại.


Thoái hoá cột sống là gì?

Cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém.

Những yếu tố nào đã đẩy nhanh quá trình thoái hoá cột sống của con người?

- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.

- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.

- Tập luyện thể dục, thể thao không hợp lý.

- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.

- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.

- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.

- Thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên. Tỷ lệ bị thoái hoá cột sống ở nam và nữ là gần như nhau mặc dù nguyên nhân là tương đối khác nhau ở hai giới. Nếu như ở nam giới phần lớn là do lao động nặng, chơi thể thao quá độ, thì nữ giới là do thiếu hụt canxi, hậu quả của việc mang thai và sinh nở mà không được bù đắp kịp thời và đầy đủ.
 Biểu hiện của thoái hoá cột sống

- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống... Nếu gặp phải những hiện tượng như vậy, có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống.

- Nếu như đau lưng do bị thận hoặc một số bệnh khác thường diễn ra theo cơn, dữ dội, thì đau lưng do thoái hoá cột sống lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ, gáy. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.


- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.


Khống chế những cơn đau lưng và khó chịu do thoái hoá cột sống bằng cách nào?

- Có nhiều phương pháp được sử dụng hiện nay tại các bệnh viện là: Dùng thuốc, thuỷ châm, châm cứu, kéo giãn cột sống, vật lý trị liệu v.v... Tất cả các phương pháp này đều phải được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định thực hiện.

- Khi ở nhà, nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút. Nói chung, người bị thoái hoá cột sống không nên ngồi một chỗ mà nên vận động nhẹ nhàng, tập thể dục vừa phải.

- Chườm nóng và xoa bóp được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.

- Khi đã cảm thấy khá hơn, bạn hãy bơi lội một chút. Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.

- Khi đã từng bị đau lưng do thoái hoá cột sống một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.

- Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.

Phòng bệnh từ khi còn nhỏ và ngay trong cách thức sinh hoạt hàng ngày

- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoái hoá cột sống sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v...

- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 - 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.

- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.

- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.

- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.
Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013
Tiểu đường tuýp 2 có nguy hiểm không ?

Tiểu đường tuýp 2 có nguy hiểm không ?

Tiểu đường tuýp 2 có nguy hiểm không ? Bệnh tiểu đường tuýp 2 thực sự rất nguy hiểm nó đang trở thành căn bệnh đại dịch toàn cầu. Theo thống kê cứ 10 người mắc tiểu đường thì có tới 9 người bị tiểu đường tuýp 2. Đây là thực trạng rất đáng báo động về lối sống, cách ăn uống sinh hoạt không khoa học cùng với cuộc sống tĩnh tại ít vận động, béo phì tăng cao là một trong những yếu tố góp phần làm bùng phát căn bệnh này.


Bệnh tiểu đường tuýp 2 đang trở thành thách lớn cho cả cộng động

Theo cảnh báo của WDF, sự gia tăng bệnh đái tháo đường ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển là một con số khủng khiếp: 170%. Như vậy, bệnh đái tháo đường có xu hướng phát triển nhanh ở các nước đang phát triển, các nước có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống, tốc độ đô thị hóa…
Theo Hội liên hiệp đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2011 toàn thế giới có 366 triệu người mắc đái tháo đường và 280 triệu người bị tiền đái tháo đường. Dự tính tới năm 2030, con số tương đương sẽ là 552 triệu người và 398 triệu người. Trong số đó thì khoảng 90% là bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, còn lại là người mắc đái tháo đường tuýp 1. Tuy nhiên chỉ có khoảng 6% số bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị. Từ đó có thể nói, đái tháo đường tuýp 2 đang trở thành một đại dịch nguy hiểm bởi sự gia tăng nhanh chóng cùng những biến chứng của bệnh gây ra tình trạng ốm đau kéo dài, tử vong sớm… đang trở thành thách thức lớn cho tất cả cộng đồng.

Tại sao gọi tiểu đường tuýp 2 là căn bệnh đại dịch toàn cầu

Theo thống kế cứ 10 người thì có tới 9 người mắc tiểu đường tuýp 2. Có thể nói rằng cuộc sống càng phát triển thì đồng hành với số lượng người mắc tiểu đường ngày càng nhiều đặc biệt là tiểu đường tuýp 2.
Theo các chuyên gia bệnh tiểu đường tuýp 2 hoàn toàn có thể phòng chống được bằng cách thay đổi lối sống, cách ăn uống lành mạnh cùng với thói quen rèn luyện thể dục thể thao sẽ giúp bạn tránh xa nguy cơ mắc tiểu đường.
Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 hoặc 5 ở các nước phát triển. Điều đáng lo ngại là tình trạng quản lý bệnh đái tháo đường còn chưa được chặt chẽ không chỉ ở những nước đang phát triển mà ngay cả những nước phát triển. Người ta thấy việc phát hiện số người đái tháo đường giống như phần nổi của một tảng băng.
Mặc dù là bệnh không lây nhiễm, nhưng một số loại virus có thể là thủ phạm gián tiếp gây bệnh đái tháo đường, như các virus sởi, quai bị… Bản thân các loại virus này không thể gây nên bệnh đái tháo đường nhưng nó có thể gây tổn thương tụy và làm giảm khả năng sản xuất insulin. Trước đây, nhiều người cho rằng ăn quá nhiều đường glucose thì có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, nhưng đó lại không phải là nguyên nhân. Nguyên nhân hàng đầu là giảm hoạt động thể lực và chế độ ăn giàu năng lượng, ít chất xơ. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân, béo phì. Béo phì, đặc biệt béo bụng được xem là yếu tố đương nhiên dẫn tới kháng insulin và hội chứng rối loạn chuyển hóa và tiến tới đái tháo đường tuýp 2.
Rối loạn dung nạp glucose và suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói sẽ làm phát triển tình trạng kháng insulin, tiến tới đái tháo đường tuýp 2. Các yếu tố được coi là có nguy cơ cao khác dễ có khả năng phát triển thành bệnh đái tháo đường tuýp 2 là: 45 tuổi trở lên; người có BMI = 23 trở lên; người có người thân cận kề đã mắc bệnh đái tháo đường; phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt (thai chết lưu, sẩy thai; đái tháo đường thai kỳ; sinh con 4kg trở lên; người có tiền sử cân nặng khi sinh dưới 2,5kg); tăng huyết áp vô căn; người có tiền sử rối loạn dung tạp glucose hoặc suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói; người có bệnh mạch vành hoặc đột quỵ

Bệnh tiểu đường đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội

Chi phí cho điều trị bệnh đái tháo đường là một chi phí phức tạp, tổng hợp của nhiều yếu tố do nó phải gắn liền với giải quyết biến chứng của bệnh, đặc biệt là những người phải nằm viện thì thường các biến chứng chiếm tới 2/3 tổng chi phí điều trị. Chi phí cho quản lý sức khỏe của người mắc bệnh đái tháo đường gấp 2-4 lần người không mắc bệnh này, bao gồm cả thuốc, trang thiết bị, xét nghiệm cận lâm sàng, chi phí thường xuyên đi khám bệnh v v… Ngoài các chi phí trực tiếp thì xã hội phải gánh vác các khoản chi phí gián tiếp cho bệnh nhân đái tháo đường như chất lượng sản phẩm lao động bị giảm sút do lo lắng, nghỉ ốm, nghỉ mất sức…
Tác động của tử vong và biến chứng sớm do đái tháo đường lên sức sản xuất, chi phí tài chính và xã hội là rất lớn, bởi bệnh đái tháo đường tuýp 2 xảy ra ở độ tuổi từ 26-64 – lứa tuổi lao động chính tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho cả cộng đồng và cho mỗi gia đình.

Giải pháp phòng chống và điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2

Nguyên nhân dẫn tới bệnh tiểu đường tuýp 2 thường do béo phì, chế độ ăn thiếu dinh dưỡng và ít vận động. Để phòng chống được bệnh tiểu đường tuýp 2 một cách hiệu quả nhất hãy luôn ghi nhớ công thức: Chế độ ăn uống lành lành + Tích cực vận động.
Tin vui cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có tới 85% bệnh nhân được chữa khỏi hoàn toàn bằng cách kết hợp giữa các bài tập thể dục, chế độ dinh dưỡng hợp lý cùng với bài thuốc nam chữa bệnh tiểu đường từ các loại thảo dược tự nhiên.
Ngoài ra trong điều trị bệnh tiểu đường typ 2 người bệnh nên kết hợp với các loại thảo dược như mướp đắng, giảo cổ lam đây là một trong những loại thảo dược trị tiểu đường tuýp 2 rất tốt.
Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013
Y học cổ truyền và căn bệnh thoái hóa cột sống

Y học cổ truyền và căn bệnh thoái hóa cột sống

Cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém.



Bệnh thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau thần kinh tọa là những tên gọi khác nhau của bệnh thoái hóa cột sống. Rất nhiều bệnh nhân thấy hoảng sợ vì không biết tại sao bản thân lại mắc nhiều bệnh đến thế, không phân biệt nổi sự khác nhau giữa các tên gọi của căn bệnh này. Trước khi đề cập đến thành công từ bài thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi trị bệnh thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau thần kinh tọa. Chúng ta đi tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng và cách phân biệt từng tên gọi của bệnh lý.

Những yếu tố nào đã đẩy nhanh quá trình thoái hoá cột sống của con người?

- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.

- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.

- Tập luyện thể dục, thể thao không hợp lý.

- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.

- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.

- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.

- Thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên. Tỷ lệ bị thoái hoá cột sống ở nam và nữ là gần như nhau mặc dù nguyên nhân là tương đối khác nhau ở hai giới. Nếu như ở nam giới phần lớn là do lao động nặng, chơi thể thao quá độ, thì nữ giới là do thiếu hụt canxi, hậu quả của việc mang thai và sinh nở mà không được bù đắp kịp thời và đầy đủ.

Biểu hiện của thoái hoá cột sống 



- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống... Nếu gặp phải những hiện tượng như vậy, có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống.

- Nếu như đau lưng do bị thận hoặc một số bệnh khác thường diễn ra theo cơn, dữ dội, thì đau lưng do thoái hoá cột sống lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ, gáy. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.
  
- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.

Khống chế những cơn đau lưng và khó chịu do thoái hoá cột sống bằng cách nào?
  
- Có nhiều phương pháp được sử dụng hiện nay tại các bệnh viện là: Dùng thuốc, thuỷ châm, châm cứu, kéo giãn cột sống, vật lý trị liệu v.v... Tất cả các phương pháp này đều phải được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định thực hiện.

- Khi ở nhà, nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút. Nói chung, người bị thoái hoá cột sống không nên ngồi một chỗ mà nên vận động nhẹ nhàng, tập thể dục vừa phải.

- Chườm nóng và xoa bóp được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.

- Khi đã cảm thấy khá hơn, bạn hãy bơi lội một chút. Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.

- Khi đã từng bị đau lưng do thoái hoá cột sống một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.

- Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.

Phòng bệnh từ khi còn nhỏ và ngay trong cách thức sinh hoạt hàng ngày 

- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoái hoá cột sống sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v...

- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 - 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.

- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.

- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.

- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.

Như vậy muốn điều trị, trước hết phải biết để loại trừ nguyên nhân. Sau đó bệnh nhân có thể dùng thuốc kết hợp với luyện tập.

Tư thế hoạt động sai là một trong những nguyên nhân gây thoái hóa đốt sống cổ và lưng, vôi hóa cột sống. Ở mức độ nặng, bệnh có thể gây ra các biến chứng phức tạp như cảm giác khó nuốt,buồn nôn,chóng mặt… Ngoài thuốc, châm cứu, bấm huyệt kết hợp với xoa bóp cũng là cách điều trị hiệu quả.

Một số bài thuốc cơ bản: 

- Hàng ngày rang lá ngải cứu, rải giường nằm. Để Ngải ngang vùng đốt cổ hoặc đốt thắt lưng. 
- Ngoài lá Ngải cứu, có thể thay thế bằng lá lốt, lá cúc tần, v.v.... 

Thuốc uống trong có thể dùng một số bài như sau:

- Tục đoạn 12g, dây đau xương 12g, huyết giác 12g, thiên niên kiện 12g, cẩu tích 20g. Ngày sắc uống 1 tháng.

- Cây lá lốt và ngải cứu lấy cả rễ, thân, lá, Cây trinh nữ dùng liềm cắt lấy phần thân, Cây cỏ xước nhổ cả rễ. Hai loại cây này phơi tái, rũ bỏ sạch lá. Tất cả đem băm và sao vàng. Mỗi ấm thuốc bốc mỗi vị độ 150 gam (một lạng rưỡi) và cho thêm vài lát gừng tươi cho ấm và dẫn thuốc. Cho thêm một nhúm cam thảo nam cho dễ uống. Ngoài những vị trên cho thêm mỗi ấm độ 100 gam rễ, thân, lá đinh lăng khô cho thuốc có mùi thơm như thuốc bắc. Sau đó đun sôi một lúc là được. Cứ đun đi đun lại cho tới khi thấy nước nhạt thì bỏ. Uống nước thuốc này thay cho nước uống hằng ngày.
 Một số phương pháp tập cơ bản:
Giữ khoảng cách hợp lý từ tay đến bàn làm việc hay máy tính. Các chuyên gia khuyên bạn nên sử dụng máy tính có màn hình lớn, tối thiểu là từ 17 inch trở lên. Điều này không chỉ đem lại những hữu ích cho đôi mắt của bạn mà còn giúp các cơ cổ không bị căng, mỏi.

Khi ngủ hãy thường xuyên chuyển mình, tránh nằm chỉ một hoặc 2 tư thế sẽ rất dễ bị vẹo cổ. Không nằm sấp, bởi tư thế này sẽ khiến cho cổ bị gập xuống rất dễ gây nên chứng thoái hóa đốt sống cổ. Ngồi cách màn hình vi tính 50 - 66cm và đặt màn hình dưới tầm mắt khoảng 10 - 20 độ. Không để tầm màn hình quá cao hoặc quá thấp hơn so với tầm mắt. Sắp xếp hợp lý nguồn ánh sáng, chọn những đồ nội thất không bị phản chiếu ánh sáng, giảm ánh sáng và sự chiếu sáng của màn hình máy tính.

Chú ý đặt màn hình máy sao cho cùng bên với cửa sổ, sử dụng mành để che bớt ánh sáng, điều này cũng rất có lợi cho mắt. Bạn hãy để màn hình thẳng ngay trước mặt chứ đừng để lệch về một bên. Khi ngồi gần bạn nên chỉnh ghế sao cho 2 cẳng tay của bạn song song với nền nhà. Bạn cũng nên nhớ luôn giữ thẳng lưng và 2 vai giữ ngang bằng. Nếu bạn sử dụng đồ kẹp hồ sơ dùng khi đánh máy thì kẹp này nên để càng sát màn hình càng tốt.

Mát xa cổ cũng là một trong những cách giảm đau mỏi cho cổ rất hữu hiệu. Mát – xa giúp giảm đau: Đầu tiên bạn hãy mát-xa từ phần sau cổ, xoa bằng hai tay hoặc một tay. Lòng bàn tay áp sát vào cổ, di chuyển từ phần tóc ở gáy xuống lưng và phần khớp vai. Sau đó, dùng cạnh của lòng bàn tay và ngón cái bóp mạnh. Dùng mu lòng bàn tay day nhẹ từ gáy đến cổ. Thực hiện khoảng 1 - 2 phút. Dùng tay phải tìm đốt sống cổ thứ 7 (to hơn các đốt sống khác) và day xung quanh đốt sống đó.

Tiếp theo, đan hai tay vào nhau để sau gáy. Ngẩng cằm lên, hít vào từ từ và đếm đến 10. Mắt mở, nhìn trên trần nhà. Khi làm động tác này, tay đóng vai trò là lực cản đầu đang ngẩng lên. Các cơ ở cổ căng hết mức. Thở ra trong 10 giây, cằm từ từ cúi xuống ngực. Dưới sức nặng của tay (lúc này vẫn đan chặt vào nhau để sau cổ), các cơ ở cổ giãn ra. Lặp lại động tác này 3 lần. Bạn cũng có thể dùng túi chườm nóng để chườm cũng sẽ giúp bạn loại trừ cảm giác đau đớn.
Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013
no image

Triệu chứng thoái hóa cột sống – Các biểu hiện thường gặp của bệnh thoái hóa cột sống

Thoái hóa cột sống là bệnh thường thấy ở những người lớn tuổi. Bệnh thoái hóa cột sống có khả năng xảy ra ở lứa tuổi vị thành niên là không cao.
Các dấu hiệu thường gặp của bệnh:
-Gây đau lưng, cứng các khớp ở bả vai, hông, đùi, cổ.
- Bệnh nhân cảm thấy đi bộ, thậm chí là chạy, thực sự tốt hơn so với thời gian dài ngồi hoặc đứng. Bệnh nhân phải thay đổi tư thế thường xuyên để tránh đau mỏi  khi làm việc lâu.
-Một số trường hợp nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến tủy sống và dây thần kinh liên chi, gây tê bì bàn tay, bàn chân. Nếu để lâu không chữa trị có thể dẫn đến teo cơ, bại liệt.
-Những người mắc bệnh này hầu hết phải chịu sự gia tăng dần mức độ của triệu chứng hoặc lặp lại dai dẳng theo chu kỳ. Đặc biệt nếu người bệnh có công việc thường xuyên cần đến những động tác nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến cột sống như bê, vác, nâng, kéo, uốn cong … thì các triệu chứng càng rõ rệt.